< Trở về giao diện Mobile

Điểm báo từ ngày 14 tháng 02 đến ngày 21 tháng 02 năm 2017

I. VẤN ĐỀ THỜI SỰ NỔI BẬT
1. Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 của Chính phủ đã đặt mục tiêu đến năm 2020 cả nước có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp  hoạt động. Do vậy, trong số nhiều giải pháp, Chính phủ yêu cầu xây dựng cơ chế tạo điều kiện, hỗ trợ và khuyến khích hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi và đăng ký hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Về vấn đề này, theo PGS.TS Phạm Tất Thắng, cố vấn cao cấp Viện Nghiên cứu thương mại (Bộ Công Thương), đây là giải pháp cần thiết nhưng không nên áp đặt bằng mệnh lệnh hành chính để chạy theo chỉ tiêu về số lượng doanh nghiệp. (Chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp: Không nên khiên cưỡng, chạy theo số lượng – Báo Hải quan 21/2).
Theo PGS.TS Phạm Tất Thắng, việc chuyển hộ kinh doanh thành doanh nghiệp (DN) để đạt về số lượng DN, nhưng các DN đó hoạt động không đúng nghĩa DN thì nên để họ làm việc dưới hình thức hộ kinh doanh. Họ đi vay vốn với tư cách cá nhân như thông tư mới đây của Ngân hàng Nhà nước thì vẫn được. Không nên vì mục tiêu về số lượng DN mà thúc đẩy các hộ kinh doanh đăng ký để trở thành DN. Điều này sẽ là việc làm khiên cưỡng, mang nặng tính hình thức.
Trước đây, Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm xương máu và thất bại khi chạy theo hình thức này. Đó là khi nước ta muốn có một loạt tập đoàn lớn, có sức mạnh lớn theo mô hình như Hàn Quốc, nhưng chúng ta lại không để tự các DN phát triển thành tập đoàn mà lại thay đổi bằng quyết định hành chính, sáp nhập nhiều tổng công ty của Nhà nước thành tập đoàn của Nhà nước. Đúng là số lượng tập đoàn nhà nước tăng lên rất nhanh, nhưng hoạt động lại không thực chất, gây tốn kém tiền của của Nhà nước nhiều hơn là hoạt động với tư cách là tập đoàn để gửi gắm, thể hiện sức mạnh của Nhà nước trong bình ổn thị trường.
Có thể thấy một thực tế là khi lên DN, các hộ kinh doanh bên cạnh nhiều mặt lợi là còn phải chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn rất nhiều. Vì vậy, với không ít hộ kinh doanh hiện nay, chuyển hướng lên DN không lợi bằng hoạt động bình dân. Nên việc chuyển đổi này hãy để thị trường tự quyết định, các chủ thể tự xác định cho mình ở hình thức thương mại nào, ở tổ chức nào thì vừa với sức lực và quy mô của mình.
Lực lượng hộ kinh doanh cá thể không những góp phần giải quyết công ăn việc làm ở nhiều người dân, nhiều vùng quê mà còn tạo tiền đề cho những DN mạnh ra đời. Nhưng hiện nay, các hộ kinh doanh vẫn đang phải tự sử dụng, tự cung ứng cơ sở vật chất, nhà cửa, phương tiện để tham gia vào quá trình kinh doanh. Nên với 8 triệu hộ kinh doanh thì các cơ quan quản lý cần phải có chính sách hỗ trợ phát triển.
Tuy chính sách hỗ trợ là điều cần thiết nhưng phải có chính sách hợp lý, phù hợp với nền kinh tế thị trường. Theo tôi, chính sách nên là để các hộ kinh doanh phát triển dần dần như những “cửa hàng tiện lợi”, khi các “siêu thị” hay là các tập đoàn lớn, DN lớn trong nước và quốc tế thấy hộ kinh doanh nào có đủ tiêu chuẩn, đáp ứng được nhu cầu  thì sẽ biến các hộ kinh doanh này thành “cửa hàng tiện lợi”, chi nhánh nhà máy, DN con của những DN lớn đó. Đây là sự chuyển hóa nhuần nhuyễn, giúp sức cho sự phát triển bền vững của DN.
2. Làm tốt công tác phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn nhằm thực hiện nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính trị là một yêu cầu cấp thiết, nhất là đối với TP. Hồ Chí Minh - địa phương đã và đang nỗ lực xây dựng, phát triển thành đô thị hiện đại, hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới bền vững. (Đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống: Nâng chất công tác kết nạp đảng viên trong - Báo Sài gòn giải phóng 20/2).
Trong nhiều năm qua, Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh luôn quán triệt quan điểm kết nạp đảng viên mới phải coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng, từng bước trẻ hóa đội ngũ đảng viên gắn với nâng cao chất lượng đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng Đảng bộ.
Quán triệt quan điểm trên, công tác phát triển Đảng, trong đó có phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn đã có sự chuyển biến tích cực về nhiều mặt. Trước hết là chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng của công tác phát triển đảng viên, về ý thức, trách nhiệm của tổ chức cơ sở Đảng trong việc phát triển đội ngũ kế cận, từng bước quan tâm hơn đến kết nạp đảng viên là hội viên nông dân sản xuất giỏi nhằm xây dựng lực lượng chính trị nòng cốt trong xây dựng nông thôn mới. Kết quả, trong 3 năm (2014-2016), các quận ủy, huyện ủy đã bồi dưỡng, tạo nguồn và kết nạp 121 đảng viên là hội viên Hội Nông dân, nâng tổng số đảng viên là hội viên Hội Nông dân hiện nay lên 3.390 đồng chí, chiếm tỷ lệ 4,4% tổng số hội viên, chiếm 1,6% số đảng viên thuộc Đảng bộ TP. Đáng biểu dương là nhiều địa phương có cách làm hay như Huyện ủy Cần Giờ tiến hành khảo sát nguồn phát triển đảng viên tại các chi bộ khu phố, ấp, trong đó tập trung vào các đối tượng là trưởng, phó ấp - khu phố, tổ nhân dân, các chi hội, đoàn viên, hội viên nông dân sản xuất giỏi… Huyện ủy Củ Chi hàng năm đều xây dựng kế hoạch đề ra chỉ tiêu kết nạp đảng viên, trong đó quan tâm chỉ đạo kết nạp đảng viên từ lực lượng hội viên Hội Nông dân…
Hầu hết đảng viên là nông dân đã phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện các phong trào ở địa phương cũng như tham gia và vận động nhân dân thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới; thực hiện tốt nhiệm vụ của chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội, ấp, tổ nhân dân giao, vừa tổ chức sản xuất phát triển kinh tế gia đình, góp phần vào sự phát triển của địa phương.
Tuy nhiên, việc phát triển đảng viên của các đảng bộ, chi bộ nông thôn thời gian qua trên địa bàn TP vẫn còn mặt hạn chế, tồn tại. Số lượng hội viên nông dân ưu tú được kết nạp vào Đảng đạt tỷ lệ thấp, chưa tương xứng với lực lượng đoàn viên, hội viên hiện có của các đoàn thể chính trị - xã hội và kết quả phong trào xây dựng nông thôn mới của từng địa phương... Một trong những nguyên nhân là do các cấp ủy Đảng chưa chú trọng đến công tác tuyên truyền, giới thiệu về Đảng để quần chúng hiểu được mục đích, lý tưởng cao cả của Đảng để phấn đấu vào Đảng. Công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên ở một số nơi chưa được chú trọng, chưa tương xứng với số lượng nông dân, hội viên Hội Nông dân trên địa bàn. Một số cấp ủy Đảng chưa thực sự quan tâm đến công tác phát hiện, bồi dưỡng phát triển đảng viên mới, thêm vào đó, vai trò tiên phong, gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên chưa cao cũng ảnh hưởng đến hình ảnh người đảng viên mà quần chúng phấn đấu noi theo.
Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kết nạp đảng viên, trong đó có đội ngũ nông dân như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã yêu cầu: “Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng. Cấp ủy các cấp chỉ đạo nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên”, các cấp ủy trên địa bàn TP, nhất là Đảng đoàn Hội Nông dân Việt Nam TP, các tổ chức chính trị - xã hội TP, Ban Thường vụ Quận ủy quận 9, 12, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Tân, Huyện ủy huyện Nhà Bè, Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Cần Giờ phải vào cuộc tích cực, kiên quyết hơn nữa. Bên cạnh tiếp tục nâng cao nhận thức về chính trị tư tưởng ở khu vực nông thôn, Đảng ủy, chính quyền, đoàn thể các quận, huyện, phường, xã, thị trấn cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, chuyển đổi kinh tế nông nghiệp, ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ một cách căn bản, tổ chức lại sản xuất với sự linh hoạt của tư duy mới, cơ chế mới, cách làm mới, nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế để nhân dân hiểu rõ đây là chính sách của ý Đảng hợp lòng dân, từ đó thu hút nông dân đến với tổ chức Đảng.
3. Đầu năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2017/NĐ-CP về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ theo hướng siết chặt điều kiện cấp bảo lãnh, khống chế mức cấp bảo lãnh nợ vay và phát hành trái phiếu, nâng cao khả năng trả nợ… (Giảm tỷ lệ bảo lãnh chính phủ với các khoản vay nợ - Thời báo tài chính 15/2).
Theo Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) - ông Võ Hữu Hiển, bên cạnh các kết quả tích cực, cơ chế sử dụng vốn chủ yếu dựa vào cấp phát từ ngân sách nhà nước và Nhà nước chịu rủi ro toàn bộ như hiện nay cũng đang đặt ra một số vấn đề: Đầu tư dàn trải, chưa thực hiệu quả; tình trạng chậm tiến độ, tăng tổng mức đầu tư. Tính hợp lý trong phân bổ nguồn vốn giữa các địa bàn còn bất cập...
Đặc biệt, tính chất vay nước ngoài của Việt Nam đã có thay đổi khi ta đạt ngưỡng nước có thu nhập trung bình và sẽ dừng nhận các khoản vay ưu đãi từ Hiệp hội Phát triển quốc tế thuộc WB trong năm 2017 tới đây. Dự kiến đến tháng 7/2017 Việt Nam có thể không còn được vay theo điều kiện ODA, phải chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vay ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường. Nguồn vốn ODA đã vay chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi hoặc tăng lãi suất lên từ 2% - 3,5%.
Đánh giá về việc cho vay lại chính quyền địa phương, ông Võ Hữu Hiển cho biết, trước thời điểm Nghị định số 04/2017/NĐ-CP chưa được chính thức ban hành, Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại đã chủ động báo cáo Bộ Tài chính đề xuất nhân rộng cơ chế tài chính áp dụng phương thức cho vay lại địa phương trên cơ sở khung tỷ lệ cho vay lại. Con số hợp đồng cho vay lại trong năm 2016 lên tới 18 hợp đồng với trị giá khoảng 996 triệu USD.
Đặc biệt trong năm 2016, tổng số dư nợ gốc tất toán trước hạn và giải phóng bảo lãnh được thực hiện trong năm 2016 khoảng 22 triệu USD, nâng tổng số trả nợ trước hạn trong 2 năm 2015 - 2016 lên gần 160 triệu USD, góp phần giảm dư nợ được Chính phủ bảo lãnh, giúp giãn sức ép lên nợ công trong các năm tới. Đây là xu hướng thúc đẩy trong giai đoạn tới để tái cơ cấu nợ công.
Theo đại diện Cục Quản Lý nợ và Tài chính đối ngoại, việc cấp bảo lãnh Chính phủ cần được “sàng lọc” từ đầu bằng những quy định pháp lý chặt chẽ, đảm bảo giới hạn nợ vay an toàn và khả năng trả được nợ, không tăng thêm gánh nặng cho nợ công. Đòi hỏi này đã được thể hiện khá rõ trong Nghị định số 04/2017/NĐ-CP.
Nghị định quy định các chương trình, dự án đầu tư phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương cấp bảo lãnh Chính phủ, đã đăng ký kế hoạch cấp bảo lãnh cho khoản vay, khoản phát hành trái phiếu trong năm… Doanh nghiệp phải gửi văn bản đăng ký cấp bảo lãnh lên Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước (với khoản vay nước ngoài) ngay tháng đầu tiên của năm kế hoạch.
Việc vay vốn thực hiện chương trình, dự án đầu tư phải đáp ứng các điều kiện tương ứng nêu tại Điều 34 của Luật Quản lý nợ công (về chương trình, dự án, người vay, người phát hành trái phiếu và khoản vay khoản phát hành trái phiếu quốc tế đối với doanh nghiệp). Đồng thời, hạn mức cấp bảo lãnh Chính phủ sẽ được phê duyệt hàng năm và phù hợp Luật Quản lý nợ công, bảo đảm an toàn nợ công.
Nghị định đặt ra yêu cầu khắt khe về vốn chủ sở hữu (CSH), như: Doanh nghiệp phải có vốn CSH tham gia dự án tối thiểu 20% tổng vốn đầu tư, phải đảm bảo đủ nguồn vốn theo tiến độ thực hiện dự án đối với các hạng mục phải chi từ vốn CSH. Khi quyết toán công trình, dự án phải đảm bảo đủ vốn CSH đã đăng ký khi nộp hồ sơ đề nghị cấp bảo lãnh.
Nghị định cũng quy định về hạn mức vay và phát hành trái phiếu, tỷ lệ cấp bảo lãnh, hệ số nợ của doanh nghiệp không vượt quá 3 lần vốn CSH… Doanh nghiệp phải có phương án tài chính dự án khả thi, có hệ số trả nợ bình quân trong 5 năm đầu dự án tối thiểu là 0,9 và có cam kết trả nợ… Từ đó, hạn chế vay nợ tràn lan, sử dụng vốn kém hiệu quả.
Đặc biệt, Nghị định quy định giảm mức bảo lãnh Chính phủ từ “không vượt quá 80%” tổng mức đầu tư của chương trình, dự án xuống mức bảo lãnh tối đa là 70% (gồm tất cả các chi phí vay có liên quan). Mức bảo lãnh chính phủ đối với trị giá gốc của khoản vay, khoản phát hành trái phiếu cho chương trình, dự án đầu tư không vượt quá 70% tổng mức đầu tư của chương trình, dự án
Mức bảo lãnh chính phủ được áp dụng đối với từng chương trình, dự án cụ thể theo quy định của Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 và Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014.
Cụ thể, đối với dự án được Quốc hội, Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư hoặc dự án thuộc diện phải triển khai cấp bách, mức bảo lãnh là trị giá gốc của khoản vay, khoản phát hành trái phiếu tối đa 70% tổng mức đầu tư theo Quyết định đầu tư.
Đối với dự án nhóm A có tổng mức đầu tư từ 2.300 tỷ đồng trở lên, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư, mức bảo lãnh là trị giá gốc của khoản vay, khoản phát hành trái phiếu tối đa 60% tổng mức đầu tư theo Quyết định đầu tư.
Đối với dự án khác, mức bảo lãnh là trị giá gốc của khoản vay, khoản phát hành trái phiếu tối đa 50% tổng mức đầu tư theo Quyết định đầu tư.
4. Mới đây, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 25/NQ-CP về việc thực hiện chương trình hành động triển khai Nghị quyết TƯ 4 Khóa XII. Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết được Chính phủ nêu lên ở Mục 3, đó là: “Rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành, kiểm soát việc thực thi quyền lực bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xóa bỏ những tiêu cực trong cơ chế “xin - cho”, “duyệt - cấp”; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, “sân sau”, trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, quản lý và sử dụng biên chế”. (Chữa căn bệnh lãng phí của công - Báo Đại đoàn kết 15/2).
Tại kỳ họp thứ 2 QH khóa XIV trong buổi thảo luận về kinh tế - xã hội, Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh đã phải giải trình trước QH về 5 dự án nghìn tỉ đồng đang thua lỗ, thậm chí đắp chiếu, gây thất thoát nặng cho nền kinh tế. Tại buổi giải trình ấy, chính Bộ trưởng Bộ Công thương đã “bật mí”: Không chỉ có 5 dự án này mà còn một số dự án khác còn tiềm ẩn những nguy cơ tồn đọng và các vướng mắc không được tháo gỡ kịp thời sẽ có khả năng kém hiệu quả, gây ra nguy cơ mất vốn đầu tư từ nguồn lực của Nhà nước cũng như nguồn lực của xã hội.
Cuối năm 2016 trong một dịp làm việc với Bộ Công thương về hướng xử lý các dự án thua lỗ của Bộ này, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã nhấn mạnh tinh thần tuân thủ pháp luật và cơ chế thị trường. “Nhà nước nhất quyết không dùng tiền ngân sách để bù lỗ, hỗ trợ cho các dự án này nữa”, Phó Thủ tướng nói. Bên cạnh việc rà soát lại toàn bộ quá trình hình thành các dự án của ngành Công thương đã được điểm danh để Ban Chỉ đạo sẽ đánh giá tổng thể thực trạng, mức độ thiệt hại để báo cáo Thủ tướng. Dự án, nhà máy nào không còn khả năng cơ cấu lại thì phải xử lý theo các hướng thoái vốn, bán đấu giá, cho giải thể, phá sản...
Giải thể, phá sản là việc làm cần thiết vì đã thua lỗ đến không còn cách cứu vãn thì có muốn cứu cũng khó và biết đâu cứu xong cũng không để làm gì. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây chính là tiền của dân- của nước đã bị thua lỗ, thất thoát giờ xử lý thế nào. Chính phủ về phần mình, trước và sau Nghị quyết 25 chắc chắn sẽ làm quyết liệt và sẽ thực hiện thanh tra, kiểm toán toàn diện các dự án, doanh nghiệp nói trên, xác định rõ trách nhiệm và đề xuất xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân có sai phạm. Tuy thế, như đã nói, thu hồi toàn bộ tài sản thất thoát từ các dự án ấy mới là việc làm không hề dễ nếu không nói là khó khả thi.
Chính vì nhận diện được những khó khăn trong quá trình xử lý nêu trên nên lần này, Chính phủ ban hành Nghị quyết đã nêu rất rõ về việc tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách quản lý kinh tế theo quy luật khách quan và quy luật thị trường. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích bộ, ngành, địa phương, cơ sở năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Và, xây dựng, trình Bộ Chính trị Đề án thành lập cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước tại doanh nghiệp; sớm xóa bỏ chức năng đại diện sở hữu của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.  Rồi, Chính phủ cũng đã khẳng định: Đẩy mạnh thực hiện các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 21 tháng 12 năm 2012 của Ban Bí thư (khóa XI) về việc đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các quy định của pháp luật có liên quan; tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán, không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước.
Bên cạnh đó, xây dựng quy định tăng thẩm quyền và đề cao trách nhiệm người đứng đầu; hoàn thiện thể chế về quản lý cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có các quy định về xử lý kỷ luật; khắc phục những bất hợp lý trong công tác cán bộ, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức. Và, cùng với đó là việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định nhằm tăng thẩm quyền và đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác cán bộ, công chức, viên chức dưới quyền để kiểm điểm khi có dấu hiệu vi phạm hoặc chậm trễ, trì trệ, kém hiệu quả trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; phối hợp với các cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn hành vi bao che, cản trở, gây khó khăn trong xử lý hoặc có dấu hiệu bỏ trốn...
Nói tóm lại là hàng loạt biện pháp đã được đưa ra. Nếu những biện pháp ấy được thực hiện nghiêm không lo gì chúng ta không phát hiện được tham nhũng, lãng phí tài sản công và khắc chế nó, đẩy lùi nó. Chính phủ đã có quyết tâm cao, giờ là lúc cần có sự đồng lòng nhất trí của các cấp, các ngành, các địa phương.   
II. KINH TẾ - PHÁT TRIỂN
1. Ứng xử như thế nào với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem là thách thức lớn trong bối cảnh không có bài học nào của nước khác hoàn toàn thích ứng cho nước ta. Xin trân trọng gửi tới bạn đọc bài phân tích của TS. Hồ Quốc Tuấn (Đại học Bristol, Anh) viết riêng cho Báo Đầu tư, về vấn đề này. (Thu hút và sử dụng vốn FDI: Giảm nguy cơ hai nền kinh tế trong một quốc gia - Báo Đầu tư 20/2).
Trong năm 2016, những tranh luận về lợi và hại của nguồn vốn FDI trong nền kinh tế Việt Nam đã trở nên rất nóng qua sự kiện Formosa gây ra thảm họa môi trường ở miền Trung. Câu hỏi lựa chọn cá và thép đã trở thành một chủ đề tranh cãi kéo dài và chắc chắn còn tiếp diễn trong tương lai.
Song song với tranh cãi đó, các chuyên gia kinh tế phát triển cũng đã nêu nhiều lo ngại rằng, FDI có thể phân hóa nền kinh tế. Đầu năm 2016, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ đã nêu lo ngại về rủi ro hai nền kinh tế trong một quốc gia: đó là nền kinh tế của khu vực FDI và nền kinh tế của doanh nghiệp tư nhân nội địa. Rủi ro này đang dần trở thành hiện thực.
Không khó để nhận ra sự lấn át và vai trò ngày càng rõ của khối doanh nghiệp FDI trong nền kinh tế khi nhìn vào đồ thị so sánh tỷ trọng xuất khẩu giữa khối doanh nghiệp trong nước với khối doanh nghiệp FDI. Khối doanh nghiệp FDI chỉ chiếm tỷ trọng 27% trong lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam năm 1995, nhưng đến năm 2016, con số này đã là trên 70%. Nhiều thương hiệu Việt đã bị nước ngoài mua lại trong mấy năm qua và không ít doanh nghiệp liên doanh đã chuyển sang hẳn sang sở hữu nước ngoài 100% vốn.
Sự lấn lướt của khối doanh nghiệp FDI trong mấy năm qua lại không tạo ra một sự lan tỏa đáng kể về công nghệ và trình độ quản lý sang doanh nghiệp trong nước như kỳ vọng. Sự thất bại của ngành ô tô và công nghiệp phụ trợ là một ví dụ thường được nhắc tới, nhưng còn rất nhiều tình huống tương tự đang diễn ra trong nền kinh tế.
Nhiều chuyên gia e ngại, sự bành trướng của doanh nghiệp FDI sẽ giết chết các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong khi ban đầu, chúng ta kỳ vọng doanh nghiệp FDI vào sẽ kéo theo sự phát triển của doanh nghiệp nội địa.
Các số liệu thống kê và điều tra của các tổ chức trong và ngoài nước (như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI và Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc - UNIDO) cho thấy, không có sự lan tỏa đáng kể của kinh tế FDI sang kinh tế trong nước về mặt công nghệ, trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang dần bị chèn lấn bởi doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân lớn nhiều vốn.
Vấn đề cốt lõi trong rủi ro hai nền kinh tế trong một quốc gia là, FDI không tạo ra hiệu ứng lan tỏa theo chiều dọc ra nền kinh tế, nghĩa là, doanh nghiệp FDI không kéo theo một sự lớn mạnh của các doanh nghiệp nội địa tham gia vào chuỗi giá trị của họ. Rõ ràng nhất là doanh nghiệp FDI chỉ tận dụng lợi thế nhân công rẻ và nguồn nguyên liệu tại chỗ để lắp ráp và xuất khẩu và vẫn sử dụng linh kiện phụ trợ nhập khẩu hoặc do chi nhánh Việt Nam của nhà cung cấp nước ngoài cung cấp. Họ cũng không chuyển giao đáng kể công nghệ tiên tiến sang nước ta. Vì vậy, bước đi quan trọng đầu tiên để xóa ảnh hưởng tiêu cực của chuyện hai nền kinh tế trong một quốc gia là gia tăng liên kết theo chiều dọc.
Về mặt này, chính sách của Việt Nam cũng có bàn đến, nhưng thực thi còn quá kém. Chẳng hạn, với việc phát triển công nghiệp phụ trợ, chúng ta đã bàn nhiều từ hơn 10 năm trước và cũng đã có chiến lược rõ ràng. Thế nhưng, các doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đã nhìn nhận thẳng thắn với giới báo chí rằng, họ không hiểu chiến lược công nghiệp phụ trợ muốn gì. Định hướng chính sách thì đúng, nhưng tới khi triển khai thì mơ hồ, không nhất quán, nên không thể đạt được kết quả như mong đợi.
Một khía cạnh quan trọng khác trong chiến lược gia tăng liên kết dọc là việc chọn doanh nghiệp và ngành công nghiệp để ưu đãi. Không phải cứ để doanh nghiệp nước ngoài vào, ưu đãi cho họ là tự nhiên có liên kết dọc. Chẳng hạn, điều tra của UNIDO năm 2011 về công nghiệp Việt Nam cho thấy, nước ta ưu đãi cho các doanh nghiệp công nghệ cao rất nhiều, nhưng họ là nhóm hầu như không chuyển giao cái gì cho trong nước và họ lại nằm trong nhóm sử dụng nhiều nhà cung cấp nước ngoài nhất. Điều đó cho thấy, ưu đãi cho những dự án lớn, công nghệ cao nhiều tỷ USD thật ra chỉ là thứ để lấy thành tích nhất thời, chứ hiệu ứng lan tỏa lại rất thấp.
Như vậy, chúng ta cần một chiến lược thu hút FDI khôn ngoan hơn, không phải cứ ngành thời thượng, công ty lớn, dự án lớn thì ta ưu đãi cho họ. Chúng ta cũng cần một chiến lược phát triển rõ ràng, định hướng đâu là thế mạnh của Việt Nam (nên giới hạn vài ngành, chứ không phải hàng chục ngành). Chiến lược đó phải xuất phát từ thực tế trình độ và thế mạnh của Việt Nam, chứ không phải từ mong muốn duy ý chí và chiến lược bắt chước.
Bên cạnh đó, cần xóa bất bình đẳng trong đối xử với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các doanh nghiệp này đang ngày càng bị “đối xử tệ” do những bất lợi về nguồn vốn, trình độ quản lý, mối quan hệ, khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài và bất lợi do những ưu đãi với doanh nghiệp FDI tạo ra. Trong khi đó, những chiến lược hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường dường như chỉ là những khẩu hiệu.
2. Theo Bộ Công Thương, dự thảo Nghị định hàng hóa, dịch vụ địa bàn thực hiện độc quyền Nhà nước sẽ không làm tăng thêm hay mở rộng lĩnh vực độc quyền nhà nước. (Không tăng thêm lĩnh vực độc quyền nhà nước - Báo Năng lượng mới 15/2).
Những ngày qua, thông tin về dự thảo Nghị định về hàng hóa, dịch vụ, địa bàn thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại (dự thảo Nghị định), đặc biệt là về Danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại ban hành kèm theo dự thảo Nghị định đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội. Rất nhiều ý kiến phân tích, bình luận đã được đưa ra, trong đó có nhiều ý kiến cho rằng dự thảo sẽ mở rộng, làm tăng thêm lĩnh vực độc quyền nhà nước…
Trước những ý kiến trên, trong thông báo phát đi chiều 14/2, Bộ Công Thương khẳng định việc ban hành dự thảo Nghị định hàng hóa, dịch vụ địa bàn thực hiện độc quyền Nhà nước là cần thiết. Theo Khoản 4 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 quy định "Nhà nước thực hiện độc quyền Nhà nước có thời hạn về hoạt động thương mại đối với một số hàng hóa, dịch vụ hoặc tại một số địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia". Luật giao "Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền Nhà nước".
Tại văn bản số 130/TTg-KTTH ngày 27/1/2015, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng dự thảo Nghị định, bảo đảm phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các cam kết quốc tế có liên quan.
Cũng theo Bộ Công Thương, danh mục hàng hóa, dịch vụ địa bàn thực hiện độc quyền Nhà nước một khi được ban hành sẽ giúp hệ thống hóa và minh bạch hóa tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền nhà trong hoạt động thương mại phù hợp với cam kết quốc tế, các chính sách và quy định hiện hành, đồng thời là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các chủ thể khác trong xã hội thực hiện chức năng giám sát công khai việc thực hiện độc quyền nhà nước trong các lĩnh vực được liệt kê. Việc ban hành Danh mục còn giúp tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc bảo lưu quyền của Việt Nam trong các cuộc đàm phán quốc tế về mở cửa thị trường, qua đó tăng cường tính minh bạch cũng như tính hiệu quả của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Bộ Công Thương cũng khẳng định Dự thảo Nghị định và Danh mục được xây dựng với quan điểm chủ đạo là không mở rộng và không tăng thêm các lĩnh vực độc quyền nhà nước đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đồng thời phù hợp với các cam kết quốc tế hiện hành của Việt Nam.
Trên tinh thần đó, Bộ Công Thương đã phối hợp với các Bộ, ngành rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành để xác định các loại hàng hóa, dịch vụ sẽ được quy định tại Danh mục, trong đó có Luật An ninh, Luật Quốc phòng, Luật Điện lực, Luật Bưu chính, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Đường sắt, Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Nghị định số 24/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, Nghị định số 30/2007 về kinh doanh xổ số, Nghị định 67/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá...
Dựa trên kết quả rà soát, từ năm 2015, dự thảo Danh mục đã được đưa ra lấy ý kiến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp có liên quan; đồng thời được đăng tải trên website của Bộ Công Thương và Cổng thông tin điện tử Chính phủ để lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân trong toàn xã hội. Được biết, dự thảo Danh mục này cũng đã được Bộ Tư pháp thẩm định.
Tại thời điểm trình Chính phủ vào tháng 12 năm 2015, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, Danh mục dự kiến bao gồm 19 loại hàng hóa, dịch vụ và chi tiết hoạt động thương mại cần áp dụng độc quyền nhà nước. Tuy nhiên, sau khi tiếp thu ý kiến của các thành viên Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Danh mục đã được bổ sung thêm mặt hàng vàng nguyên liệu, với hoạt động thương mại độc quyền tương ứng là "xuất khẩu và nhập khẩu để sản xuất vàng miếng", nâng tổng số hàng hóa, dịch vụ tại Danh mục lên thành 20.
Toàn bộ các loại hàng hóa, dịch vụ được liệt kê tại Danh mục đều là các loại hàng hóa, dịch vụ hiện đang áp dụng độc quyền nhà nước, phù hợp với nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 4 dự thảo Nghị định là giới hạn phạm vi thực hiện độc quyền nhà nước chỉ trong các lĩnh vực, địa bàn thiết yếu mà Nhà nước cần phải giữ độc quyền liên quan đến an ninh - quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hoặc các thành phần kinh tế khác không muốn hay không có khả năng tham gia.
3. Năm 2016, bối cảnh kinh tế thế giới có những diễn biến khó lường, kinh tế trong nước gặp nhiều thách thức nhưng mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô đã đạt được. Tuy nhiên, những khó khăn trong năm 2016 có thể sẽ tiếp tục diễn ra trong năm 2017, thậm chí với mức độ lớn hơn, đặt ra thách thức lớn đối với điều hành chính sách kinh tế vĩ mô. (Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2017  - Tạp chí Tài chính 18/2).
Có thể nói, 2017 là năm quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020. Chính vì vậy, Quốc hội, Chính phủ đã quyết tâm phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% trong năm 2017. Nếu như năm 2017 không đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% thì việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng 6,5-6,7% của cả giai đoạn 2016-2020 sẽ rất khó khăn.
Tuy nhiên, 2017 dự báo sẽ là năm môi trường kinh tế thế giới có nhiều bất định hơn năm 2016, trong khi kinh tế trong nước vẫn đang tồn tại những vấn đề có tính cơ cấu dài hạn, chẳng hạn như vấn đề nợ xấu ngân hàng, nợ công... Những vấn đề dài hạn khiến tính linh hoạt của chính sách để đối phó với những bất định trong ngắn hạn càng thêm hạn chế; ngược lại, những bất định, khó khăn trong ngắn hạn lại làm chậm, thậm chí cạnh tranh nguồn lực với tiến trình giải quyết những vấn đề dài hạn.
Năm 2016, giá hàng hóa thế giới tiếp tục giảm với giá dầu thô WTI ước giảm 11,5% so với năm 2015, xuống mức bình quân cả năm là 43,07 USD/thùng. Do đó, sản lượng dầu khai thác trong nước đã phải cắt giảm 10%, ảnh hưởng đến tăng trưởng của ngành khai khoáng (ước ở mức âm 3,6%).
Giá xuất khẩu nông sản, thực phẩm trong năm 2016 cũng giảm 5,8%, cùng với thời tiết phức tạp, hạn hán kéo dài, đã ảnh hưởng đến tăng trưởng của ngành nông nghiệp (ước chỉ ở mức 0,05%).  
Sang năm 2017, theo dự báo của Cơ quan năng lượng Hoa Kỳ (EIA) giá dầu thô WTI sẽ tăng 17,6% so với năm 2016, lên mức 50,66 USD/thùng (cao hơn mức 48,67 USD/thùng của năm 2015). Với mức giá trên, ngành dầu khí có điều kiện tăng sản lượng khai thác dầu thô và ngành khai khoáng sẽ tăng trưởng dương trong năm 2017.
Giá nông sản cũng được Ngân hàng Thế giới dự báo sẽ tăng 1,4% trong năm 2017, giá tăng sẽ giúp ngành nông nghiệp giảm bớt khó khăn.
Sang năm 2017, tăng trưởng tiềm năng dự báo sẽ tiếp tục tăng lên mức 6,5% trong năm 2017, so với mức 6,2% trong năm 2016. Cộng với những cải thiện trong ngắn hạn của ngành nông nghiệp và khai khoáng nêu trên, tăng trưởng năm 2017 có khả năng đạt mức 6,7%.
III. GIÁO DỤC, XÃ HỘI
1. Cơ quan quản lý khẳng định sẽ tính toán thu thuế không chỉ bán hàng trên Facebook mà cả trên các mạng xã hội như Zalo, Instagram, YouTube... Thực tế, có đơn vị doanh thu cả tỉ đồng nhưng không nộp thuế... (Bán hàng trên Facebook phải nộp thuế - báo Tuổi trẻ 21/2).
Có tới 35% doanh nghiệp đang bán hàng trên mạng xã hội. Có thể tới hàng triệu cá nhân, hộ kinh doanh đang bán hàng trên Facebook với doanh thu lớn nhưng không nộp thuế.
Theo nhiều chuyên gia, điều này là không công bằng với những người nộp thuế. Bởi hiện nay, nhiều người bán quán ăn, quần áo cũng phải đóng thuế.
Là người đề xuất làm việc với Facebook để quản lý nguồn thu thuế, ông Phạm Thành Kiên - giám đốc Sở Công thương TP.HCM - nêu TP đang nỗ lực chống thất thu và thương mại điện tử (TMĐT) là một trong những mảng cơ quan, ban ngành cần để ý.
Khẳng định mảng này đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, ông Kiên nêu Sở Công thương TP.HCM sẵn sàng phối hợp với Cục Thuế TP.HCM để cùng bàn cách hỗ trợ, hợp tác để phòng chống thất thu thuế với mô hình kinh doanh mới này.
Ông Kiên công nhận hiện mảng quản lý TMĐT do Sở Công thương TP phụ trách, tuy nhiên đơn vị chỉ có thể nắm rõ số lượng các website đang hoạt động, tên miền nhưng doanh thu bán hàng thì chưa quản lý được.
Trong khi đó bà Lê Thị Hà, phó trưởng phòng pháp chế Cục TMĐT và công nghệ thông tin (Bộ Công thương), khẳng định theo quy định của nghị định 52 về TMĐT, người tham gia bán hàng qua mạng phải đóng thuế.
Đồng thời, theo chuyên gia của Bộ Công thương, quy định của Luật quản lý thuế năm 2006, bất kể doanh nghiệp hay cá nhân dù có đăng ký kinh doanh hay không, miễn có hoạt động mua bán phát sinh thu nhập đến mức chịu thuế thì có trách nhiệm phải thực hiện đăng ký, kê khai, nộp thuế theo quy định.
PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, trưởng bộ môn quản trị tài chính quốc tế, khoa tài chính quốc tế (Học viện Tài chính), công nhận việc quản lý, giám sát hoạt động bán hàng, thu thuế của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp bán hàng trên mạng gặp khó khăn. Bởi họ chủ yếu giao dịch bằng phương thức trao hàng - trả tiền, rất khó giám sát.
Việc kê khai thuế với những trường hợp kinh doanh nhỏ lẻ đều theo hình thức tự khai và tự tính, nên không ít cá nhân kê khai không đầy đủ để tránh nghĩa vụ thuế.
Hiện việc quản lý khó nhưng trước mắt, ông Thịnh cho rằng các cơ quan thuế cần yêu cầu phải có đăng ký kinh doanh với bán hàng qua mạng. Đồng thời, có thể kiểm soát một phần việc giao dịch trong tài khoản cá nhân và doanh nghiệp, trên cơ sở đó thu thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.
Về lâu dài, cần phải mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Từ kê khai, phối hợp với các cơ quan như quản lý thị trường kiểm tra sẽ quản lý được việc kinh doanh buôn bán của các hộ cá nhân, gia đình và doanh nghiệp.
3. Trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách hành chính nhà nước được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.  (Quyết liệt hơn để hoàn thành các mục tiêu cải cách hành chính  - Báo Tuổi trẻ 14/2).
Cải cách hành chính nhà nước còn là một trong những nội dung quan trọng của một trong ba đột phá chiến lược của Đảng là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo nhằm củng cố, phát triển nền hành chính nước nhà liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ tốt nhất quyền lợi của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển bền vững, thịnh vượng của đất nước.
Cải cách hành chính hiệu quả, là thực hiện học tập và làm theo Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân, về xây dựng, phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân...; học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về: hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tận trung với nước, tận hiếu với dân; hết lòng yêu thương đồng bào, đồng chí, yêu thương con người; học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy tính nhân văn, thấm đậm tinh thần yêu dân, trọng dân, vì dân; phong cách nói đi đôi với làm, đi vào lòng người…theo tinh thần Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII.
Mục đích của hoạt động côngI. VẤN ĐỀ THỜI SỰ NỔI BẬT
1. Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 của Chính phủ đã đặt mục tiêu đến năm 2020 cả nước có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp  hoạt động. Do vậy, trong số nhiều giải pháp, Chính phủ yêu cầu xây dựng cơ chế tạo điều kiện, hỗ trợ và khuyến khích hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi và đăng ký hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Về vấn đề này, theo PGS.TS Phạm Tất Thắng, cố vấn cao cấp Viện Nghiên cứu thương mại (Bộ Công Thương), đây là giải pháp cần thiết nhưng không nên áp đặt bằng mệnh lệnh hành chính để chạy theo chỉ tiêu về số lượng doanh nghiệp. (Chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp: Không nên khiên cưỡng, chạy theo số lượng – Báo Hải quan 21/2).
Theo PGS.TS Phạm Tất Thắng, việc chuyển hộ kinh doanh thành doanh nghiệp (DN) để đạt về số lượng DN, nhưng các DN đó hoạt động không đúng nghĩa DN thì nên để họ làm việc dưới hình thức hộ kinh doanh. Họ đi vay vốn với tư cách cá nhân như thông tư mới đây của Ngân hàng Nhà nước thì vẫn được. Không nên vì mục tiêu về số lượng DN mà thúc đẩy các hộ kinh doanh đăng ký để trở thành DN. Điều này sẽ là việc làm khiên cưỡng, mang nặng tính hình thức.
Trước đây, Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm xương máu và thất bại khi chạy theo hình thức này. Đó là khi nước ta muốn có một loạt tập đoàn lớn, có sức mạnh lớn theo mô hình như Hàn Quốc, nhưng chúng ta lại không để tự các DN phát triển thành tập đoàn mà lại thay đổi bằng quyết định hành chính, sáp nhập nhiều tổng công ty của Nhà nước thành tập đoàn của Nhà nước. Đúng là số lượng tập đoàn nhà nước tăng lên rất nhanh, nhưng hoạt động lại không thực chất, gây tốn kém tiền của của Nhà nước nhiều hơn là hoạt động với tư cách là tập đoàn để gửi gắm, thể hiện sức mạnh của Nhà nước trong bình ổn thị trường.
Có thể thấy một thực tế là khi lên DN, các hộ kinh doanh bên cạnh nhiều mặt lợi là còn phải chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn rất nhiều. Vì vậy, với không ít hộ kinh doanh hiện nay, chuyển hướng lên DN không lợi bằng hoạt động bình dân. Nên việc chuyển đổi này hãy để thị trường tự quyết định, các chủ thể tự xác định cho mình ở hình thức thương mại nào, ở tổ chức nào thì vừa với sức lực và quy mô của mình.
Lực lượng hộ kinh doanh cá thể không những góp phần giải quyết công ăn việc làm ở nhiều người dân, nhiều vùng quê mà còn tạo tiền đề cho những DN mạnh ra đời. Nhưng hiện nay, các hộ kinh doanh vẫn đang phải tự sử dụng, tự cung ứng cơ sở vật chất, nhà cửa, phương tiện để tham gia vào quá trình kinh doanh. Nên với 8 triệu hộ kinh doanh thì các cơ quan quản lý cần phải có chính sách hỗ trợ phát triển.
Tuy chính sách hỗ trợ là điều cần thiết nhưng phải có chính sách hợp lý, phù hợp với nền kinh tế thị trường. Theo tôi, chính sách nên là để các hộ kinh doanh phát triển dần dần như những “cửa hàng tiện lợi”, khi các “siêu thị” hay là các tập đoàn lớn, DN lớn trong nước và quốc tế thấy hộ kinh doanh nào có đủ tiêu chuẩn, đáp ứng được nhu cầu  thì sẽ biến các hộ kinh doanh này thành “cửa hàng tiện lợi”, chi nhánh nhà máy, DN con của những DN lớn đó. Đây là sự chuyển hóa nhuần nhuyễn, giúp sức cho sự phát triển bền vững của DN.
2. Làm tốt công tác phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn nhằm thực hiện nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính trị là một yêu cầu cấp thiết, nhất là đối với TP. Hồ Chí Minh - địa phương đã và đang nỗ lực xây dựng, phát triển thành đô thị hiện đại, hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới bền vững. (Đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống: Nâng chất công tác kết nạp đảng viên trong - Báo Sài gòn giải phóng 20/2).
Trong nhiều năm qua, Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh luôn quán triệt quan điểm kết nạp đảng viên mới phải coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng, từng bước trẻ hóa đội ngũ đảng viên gắn với nâng cao chất lượng đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng Đảng bộ.
Quán triệt quan điểm trên, công tác phát triển Đảng, trong đó có phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn đã có sự chuyển biến tích cực về nhiều mặt. Trước hết là chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng của công tác phát triển đảng viên, về ý thức, trách nhiệm của tổ chức cơ sở Đảng trong việc phát triển đội ngũ kế cận, từng bước quan tâm hơn đến kết nạp đảng viên là hội viên nông dân sản xuất giỏi nhằm xây dựng lực lượng chính trị nòng cốt trong xây dựng nông thôn mới. Kết quả, trong 3 năm (2014-2016), các quận ủy, huyện ủy đã bồi dưỡng, tạo nguồn và kết nạp 121 đảng viên là hội viên Hội Nông dân, nâng tổng số đảng viên là hội viên Hội Nông dân hiện nay lên 3.390 đồng chí, chiếm tỷ lệ 4,4% tổng số hội viên, chiếm 1,6% số đảng viên thuộc Đảng bộ TP. Đáng biểu dương là nhiều địa phương có cách làm hay như Huyện ủy Cần Giờ tiến hành khảo sát nguồn phát triển đảng viên tại các chi bộ khu phố, ấp, trong đó tập trung vào các đối tượng là trưởng, phó ấp - khu phố, tổ nhân dân, các chi hội, đoàn viên, hội viên nông dân sản xuất giỏi… Huyện ủy Củ Chi hàng năm đều xây dựng kế hoạch đề ra chỉ tiêu kết nạp đảng viên, trong đó quan tâm chỉ đạo kết nạp đảng viên từ lực lượng hội viên Hội Nông dân…
Hầu hết đảng viên là nông dân đã phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện các phong trào ở địa phương cũng như tham gia và vận động nhân dân thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới; thực hiện tốt nhiệm vụ của chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội, ấp, tổ nhân dân giao, vừa tổ chức sản xuất phát triển kinh tế gia đình, góp phần vào sự phát triển của địa phương.
Tuy nhiên, việc phát triển đảng viên của các đảng bộ, chi bộ nông thôn thời gian qua trên địa bàn TP vẫn còn mặt hạn chế, tồn tại. Số lượng hội viên nông dân ưu tú được kết nạp vào Đảng đạt tỷ lệ thấp, chưa tương xứng với lực lượng đoàn viên, hội viên hiện có của các đoàn thể chính trị - xã hội và kết quả phong trào xây dựng nông thôn mới của từng địa phương... Một trong những nguyên nhân là do các cấp ủy Đảng chưa chú trọng đến công tác tuyên truyền, giới thiệu về Đảng để quần chúng hiểu được mục đích, lý tưởng cao cả của Đảng để phấn đấu vào Đảng. Công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên ở một số nơi chưa được chú trọng, chưa tương xứng với số lượng nông dân, hội viên Hội Nông dân trên địa bàn. Một số cấp ủy Đảng chưa thực sự quan tâm đến công tác phát hiện, bồi dưỡng phát triển đảng viên mới, thêm vào đó, vai trò tiên phong, gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên chưa cao cũng ảnh hưởng đến hình ảnh người đảng viên mà quần chúng phấn đấu noi theo.
Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kết nạp đảng viên, trong đó có đội ngũ nông dân như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã yêu cầu: “Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng. Cấp ủy các cấp chỉ đạo nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên”, các cấp ủy trên địa bàn TP, nhất là Đảng đoàn Hội Nông dân Việt Nam TP, các tổ chức chính trị - xã hội TP, Ban Thường vụ Quận ủy quận 9, 12, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Tân, Huyện ủy huyện Nhà Bè, Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Cần Giờ phải vào cuộc tích cực, kiên quyết hơn nữa. Bên cạnh tiếp tục nâng cao nhận thức về chính trị tư tưởng ở khu vực nông thôn, Đảng ủy, chính quyền, đoàn thể các quận, huyện, phường, xã, thị trấn cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, chuyển đổi kinh tế nông nghiệp, ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ một cách căn bản, tổ chức lại sản xuất với sự linh hoạt của tư duy mới, cơ chế mới, cách làm mới, nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế để nhân dân hiểu rõ đây là chính sách của ý Đảng hợp lòng dân, từ đó thu hút nông dân đến với tổ chức Đảng.
3. Đầu năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2017/NĐ-CP về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ theo hướng siết chặt điều kiện cấp bảo lãnh, khống chế mức cấp bảo lãnh nợ vay và phát hành trái phiếu, nâng cao khả năng trả nợ… (Giảm tỷ lệ bảo lãnh chính phủ với các khoản vay nợ - Thời báo tài chính 15/2).
Theo Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) - ông Võ Hữu Hiển, bên cạnh các kết quả tích cực, cơ chế sử dụng vốn chủ yếu dựa vào cấp phát từ ngân sách nhà nước và Nhà nước chịu rủi ro toàn bộ như hiện nay cũng đang đặt ra một số vấn đề: Đầu tư dàn trải, chưa thực hiệu quả; tình trạng chậm tiến độ, tăng tổng mức đầu tư. Tính hợp lý trong phân bổ nguồn vốn giữa các địa bàn còn bất cập...
Đặc biệt, tính chất vay nước ngoài của Việt Nam đã có thay đổi khi ta đạt ngưỡng nước có thu nhập trung bình và sẽ dừng nhận các khoản vay ưu đãi từ Hiệp hội Phát triển quốc tế thuộc WB trong năm 2017 tới đây. Dự kiến đến tháng 7/2017 Việt Nam có thể không còn được vay theo điều kiện ODA, phải chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vay ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường. Nguồn vốn ODA đã vay chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi hoặc tăng lãi suất lên từ 2% - 3,5%.
Đánh giá về việc cho vay lại chính quyền địa phương, ông Võ Hữu Hiển cho biết, trước thời điểm Nghị định số 04/2017/NĐ-CP chưa được chính thức ban hành, Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại đã chủ động báo cáo Bộ Tài chính đề xuất nhân rộng cơ chế tài chính áp dụng phương thức cho vay lại địa phương trên cơ sở khung tỷ lệ cho vay lại. Con số hợp đồng cho vay lại trong năm 2016 lên tới 18 hợp đồng với trị giá khoảng 996 triệu USD.
Đặc biệt trong năm 2016, tổng số dư nợ gốc tất toán trước hạn và giải phóng bảo lãnh được thực hiện trong năm 2016 khoảng 22 triệu USD, nâng tổng số trả nợ trước hạn trong 2 năm 2015 - 2016 lên gần 160 triệu USD, góp phần giảm dư nợ được Chính phủ bảo lãnh, giúp giãn sức ép lên nợ công trong các năm tới. Đây là xu hướng thúc đẩy trong giai đoạn tới để tái cơ cấu nợ công.
Theo đại diện Cục Quản Lý nợ và Tài chính đối ngoại, việc cấp bảo lãnh Chính phủ cần được “sàng lọc” từ đầu bằng những quy định pháp lý chặt chẽ, đảm bảo giới hạn nợ vay an toàn và khả năng trả được nợ, không tăng thêm gánh nặng cho nợ công. Đòi hỏi này đã được thể hiện khá rõ trong Nghị định số 04/2017/NĐ-CP.
Nghị định quy định các chương trình, dự án đầu tư phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương cấp bảo lãnh Chính phủ, đã đăng ký kế hoạch cấp bảo lãnh cho khoản vay, khoản phát hành trái phiếu trong năm… Doanh nghiệp phải gửi văn bản đăng ký cấp bảo lãnh lên Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước (với khoản vay nước ngoài) ngay tháng đầu tiên của năm kế hoạch.
Việc vay vốn thực hiện chương trình, dự án đầu tư phải đáp ứng các điều kiện tương ứng nêu tại Điều 34 của Luật Quản lý nợ công (về chương trình, dự án, người vay, người phát hành trái phiếu và khoản vay khoản phát hành trái phiếu quốc tế đối với doanh nghiệp). Đồng thời, hạn mức cấp bảo lãnh Chính phủ sẽ được phê duyệt hàng năm và phù hợp Luật Quản lý nợ công, bảo đảm an toàn nợ công.
Nghị định đặt ra yêu cầu khắt khe về vốn chủ sở hữu (CSH), như: Doanh nghiệp phải có vốn CSH tham gia dự án tối thiểu 20% tổng vốn đầu tư, phải đảm bảo đủ nguồn vốn theo tiến độ thực hiện dự án đối với các hạng mục phải chi từ vốn CSH. Khi quyết toán công trình, dự án phải đảm bảo đủ vốn CSH đã đăng ký khi nộp hồ sơ đề nghị cấp bảo lãnh.
Nghị định cũng quy định về hạn mức vay và phát hành trái phiếu, tỷ lệ cấp bảo lãnh, hệ số nợ của doanh nghiệp không vượt quá 3 lần vốn CSH… Doanh nghiệp phải có phương án tài chính dự án khả thi, có hệ số trả nợ bình quân trong 5 năm đầu dự án tối thiểu là 0,9 và có cam kết trả nợ… Từ đó, hạn chế vay nợ tràn lan, sử dụng vốn kém hiệu quả.
Đặc biệt, Nghị định quy định giảm mức bảo lãnh Chính phủ từ “không vượt quá 80%” tổng mức đầu tư của chương trình, dự án xuống mức bảo lãnh tối đa là 70% (gồm tất cả các chi phí vay có liên quan). Mức bảo lãnh chính phủ đối với trị giá gốc của khoản vay, khoản phát hành trái phiếu cho chương trình, dự án đầu tư không vượt quá 70% tổng mức đầu tư của chương trình, dự án
Mức bảo lãnh chính phủ được áp dụng đối với từng chương trình, dự án cụ thể theo quy định của Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 và Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014.
Cụ thể, đối với dự án được Quốc hội, Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư hoặc dự án thuộc diện phải triển khai cấp bách, mức bảo lãnh là trị giá gốc của khoản vay, khoản phát hành trái phiếu tối đa 70% tổng mức đầu tư theo Quyết định đầu tư.
Đối với dự án nhóm A có tổng mức đầu tư từ 2.300 tỷ đồng trở lên, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư, mức bảo lãnh là trị giá gốc của khoản vay, khoản phát hành trái phiếu tối đa 60% tổng mức đầu tư theo Quyết định đầu tư.
Đối với dự án khác, mức bảo lãnh là trị giá gốc của khoản vay, khoản phát hành trái phiếu tối đa 50% tổng mức đầu tư theo Quyết định đầu tư.
4. Mới đây, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 25/NQ-CP về việc thực hiện chương trình hành động triển khai Nghị quyết TƯ 4 Khóa XII. Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết được Chính phủ nêu lên ở Mục 3, đó là: “Rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành, kiểm soát việc thực thi quyền lực bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xóa bỏ những tiêu cực trong cơ chế “xin - cho”, “duyệt - cấp”; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, “sân sau”, trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, quản lý và sử dụng biên chế”. (Chữa căn bệnh lãng phí của công - Báo Đại đoàn kết 15/2).
Tại kỳ họp thứ 2 QH khóa XIV trong buổi thảo luận về kinh tế - xã hội, Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh đã phải giải trình trước QH về 5 dự án nghìn tỉ đồng đang thua lỗ, thậm chí đắp chiếu, gây thất thoát nặng cho nền kinh tế. Tại buổi giải trình ấy, chính Bộ trưởng Bộ Công thương đã “bật mí”: Không chỉ có 5 dự án này mà còn một số dự án khác còn tiềm ẩn những nguy cơ tồn đọng và các vướng mắc không được tháo gỡ kịp thời sẽ có khả năng kém hiệu quả, gây ra nguy cơ mất vốn đầu tư từ nguồn lực của Nhà nước cũng như nguồn lực của xã hội.
Cuối năm 2016 trong một dịp làm việc với Bộ Công thương về hướng xử lý các dự án thua lỗ của Bộ này, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã nhấn mạnh tinh thần tuân thủ pháp luật và cơ chế thị trường. “Nhà nước nhất quyết không dùng tiền ngân sách để bù lỗ, hỗ trợ cho các dự án này nữa”, Phó Thủ tướng nói. Bên cạnh việc rà soát lại toàn bộ quá trình hình thành các dự án của ngành Công thương đã được điểm danh để Ban Chỉ đạo sẽ đánh giá tổng thể thực trạng, mức độ thiệt hại để báo cáo Thủ tướng. Dự án, nhà máy nào không còn khả năng cơ cấu lại thì phải xử lý theo các hướng thoái vốn, bán đấu giá, cho giải thể, phá sản...
Giải thể, phá sản là việc làm cần thiết vì đã thua lỗ đến không còn cách cứu vãn thì có muốn cứu cũng khó và biết đâu cứu xong cũng không để làm gì. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây chính là tiền của dân- của nước đã bị thua lỗ, thất thoát giờ xử lý thế nào. Chính phủ về phần mình, trước và sau Nghị quyết 25 chắc chắn sẽ làm quyết liệt và sẽ thực hiện thanh tra, kiểm toán toàn diện các dự án, doanh nghiệp nói trên, xác định rõ trách nhiệm và đề xuất xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân có sai phạm. Tuy thế, như đã nói, thu hồi toàn bộ tài sản thất thoát từ các dự án ấy mới là việc làm không hề dễ nếu không nói là khó khả thi.
Chính vì nhận diện được những khó khăn trong quá trình xử lý nêu trên nên lần này, Chính phủ ban hành Nghị quyết đã nêu rất rõ về việc tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách quản lý kinh tế theo quy luật khách quan và quy luật thị trường. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích bộ, ngành, địa phương, cơ sở năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Và, xây dựng, trình Bộ Chính trị Đề án thành lập cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước tại doanh nghiệp; sớm xóa bỏ chức năng đại diện sở hữu của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.  Rồi, Chính phủ cũng đã khẳng định: Đẩy mạnh thực hiện các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 21 tháng 12 năm 2012 của Ban Bí thư (khóa XI) về việc đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các quy định của pháp luật có liên quan; tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán, không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước.
Bên cạnh đó, xây dựng quy định tăng thẩm quyền và đề cao trách nhiệm người đứng đầu; hoàn thiện thể chế về quản lý cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có các quy định về xử lý kỷ luật; khắc phục những bất hợp lý trong công tác cán bộ, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức. Và, cùng với đó là việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định nhằm tăng thẩm quyền và đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác cán bộ, công chức, viên chức dưới quyền để kiểm điểm khi có dấu hiệu vi phạm hoặc chậm trễ, trì trệ, kém hiệu quả trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; phối hợp với các cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn hành vi bao che, cản trở, gây khó khăn trong xử lý hoặc có dấu hiệu bỏ trốn...
Nói tóm lại là hàng loạt biện pháp đã được đưa ra. Nếu những biện pháp ấy được thực hiện nghiêm không lo gì chúng ta không phát hiện được tham nhũng, lãng phí tài sản công và khắc chế nó, đẩy lùi nó. Chính phủ đã có quyết tâm cao, giờ là lúc cần có sự đồng lòng nhất trí của các cấp, các ngành, các địa phương.   
II. KINH TẾ - PHÁT TRIỂN
1. Ứng xử như thế nào với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem là thách thức lớn trong bối cảnh không có bài học nào của nước khác hoàn toàn thích ứng cho nước ta. Xin trân trọng gửi tới bạn đọc bài phân tích của TS. Hồ Quốc Tuấn (Đại học Bristol, Anh) viết riêng cho Báo Đầu tư, về vấn đề này. (Thu hút và sử dụng vốn FDI: Giảm nguy cơ hai nền kinh tế trong một quốc gia - Báo Đầu tư 20/2).
Trong năm 2016, những tranh luận về lợi và hại của nguồn vốn FDI trong nền kinh tế Việt Nam đã trở nên rất nóng qua sự kiện Formosa gây ra thảm họa môi trường ở miền Trung. Câu hỏi lựa chọn cá và thép đã trở thành một chủ đề tranh cãi kéo dài và chắc chắn còn tiếp diễn trong tương lai.
Song song với tranh cãi đó, các chuyên gia kinh tế phát triển cũng đã nêu nhiều lo ngại rằng, FDI có thể phân hóa nền kinh tế. Đầu năm 2016, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ đã nêu lo ngại về rủi ro hai nền kinh tế trong một quốc gia: đó là nền kinh tế của khu vực FDI và nền kinh tế của doanh nghiệp tư nhân nội địa. Rủi ro này đang dần trở thành hiện thực.
Không khó để nhận ra sự lấn át và vai trò ngày càng rõ của khối doanh nghiệp FDI trong nền kinh tế khi nhìn vào đồ thị so sánh tỷ trọng xuất khẩu giữa khối doanh nghiệp trong nước với khối doanh nghiệp FDI. Khối doanh nghiệp FDI chỉ chiếm tỷ trọng 27% trong lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam năm 1995, nhưng đến năm 2016, con số này đã là trên 70%. Nhiều thương hiệu Việt đã bị nước ngoài mua lại trong mấy năm qua và không ít doanh nghiệp liên doanh đã chuyển sang hẳn sang sở hữu nước ngoài 100% vốn.
Sự lấn lướt của khối doanh nghiệp FDI trong mấy năm qua lại không tạo ra một sự lan tỏa đáng kể về công nghệ và trình độ quản lý sang doanh nghiệp trong nước như kỳ vọng. Sự thất bại của ngành ô tô và công nghiệp phụ trợ là một ví dụ thường được nhắc tới, nhưng còn rất nhiều tình huống tương tự đang diễn ra trong nền kinh tế.
Nhiều chuyên gia e ngại, sự bành trướng của doanh nghiệp FDI sẽ giết chết các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong khi ban đầu, chúng ta kỳ vọng doanh nghiệp FDI vào sẽ kéo theo sự phát triển của doanh nghiệp nội địa.
Các số liệu thống kê và điều tra của các tổ chức trong và ngoài nước (như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI và Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc - UNIDO) cho thấy, không có sự lan tỏa đáng kể của kinh tế FDI sang kinh tế trong nước về mặt công nghệ, trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang dần bị chèn lấn bởi doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân lớn nhiều vốn.
Vấn đề cốt lõi trong rủi ro hai nền kinh tế trong một quốc gia là, FDI không tạo ra hiệu ứng lan tỏa theo chiều dọc ra nền kinh tế, nghĩa là, doanh nghiệp FDI không kéo theo một sự lớn mạnh của các doanh nghiệp nội địa tham gia vào chuỗi giá trị của họ. Rõ ràng nhất là doanh nghiệp FDI chỉ tận dụng lợi thế nhân công rẻ và nguồn nguyên liệu tại chỗ để lắp ráp và xuất khẩu và vẫn sử dụng linh kiện phụ trợ nhập khẩu hoặc do chi nhánh Việt Nam của nhà cung cấp nước ngoài cung cấp. Họ cũng không chuyển giao đáng kể công nghệ tiên tiến sang nước ta. Vì vậy, bước đi quan trọng đầu tiên để xóa ảnh hưởng tiêu cực của chuyện hai nền kinh tế trong một quốc gia là gia tăng liên kết theo chiều dọc.
Về mặt này, chính sách của Việt Nam cũng có bàn đến, nhưng thực thi còn quá kém. Chẳng hạn, với việc phát triển công nghiệp phụ trợ, chúng ta đã bàn nhiều từ hơn 10 năm trước và cũng đã có chiến lược rõ ràng. Thế nhưng, các doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đã nhìn nhận thẳng thắn với giới báo chí rằng, họ không hiểu chiến lược công nghiệp phụ trợ muốn gì. Định hướng chính sách thì đúng, nhưng tới khi triển khai thì mơ hồ, không nhất quán, nên không thể đạt được kết quả như mong đợi.
Một khía cạnh quan trọng khác trong chiến lược gia tăng liên kết dọc là việc chọn doanh nghiệp và ngành công nghiệp để ưu đãi. Không phải cứ để doanh nghiệp nước ngoài vào, ưu đãi cho họ là tự nhiên có liên kết dọc. Chẳng hạn, điều tra của UNIDO năm 2011 về công nghiệp Việt Nam cho thấy, nước ta ưu đãi cho các doanh nghiệp công nghệ cao rất nhiều, nhưng họ là nhóm hầu như không chuyển giao cái gì cho trong nước và họ lại nằm trong nhóm sử dụng nhiều nhà cung cấp nước ngoài nhất. Điều đó cho thấy, ưu đãi cho những dự án lớn, công nghệ cao nhiều tỷ USD thật ra chỉ là thứ để lấy thành tích nhất thời, chứ hiệu ứng lan tỏa lại rất thấp.
Như vậy, chúng ta cần một chiến lược thu hút FDI khôn ngoan hơn, không phải cứ ngành thời thượng, công ty lớn, dự án lớn thì ta ưu đãi cho họ. Chúng ta cũng cần một chiến lược phát triển rõ ràng, định hướng đâu là thế mạnh của Việt Nam (nên giới hạn vài ngành, chứ không phải hàng chục ngành). Chiến lược đó phải xuất phát từ thực tế trình độ và thế mạnh của Việt Nam, chứ không phải từ mong muốn duy ý chí và chiến lược bắt chước.
Bên cạnh đó, cần xóa bất bình đẳng trong đối xử với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các doanh nghiệp này đang ngày càng bị “đối xử tệ” do những bất lợi về nguồn vốn, trình độ quản lý, mối quan hệ, khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài và bất lợi do những ưu đãi với doanh nghiệp FDI tạo ra. Trong khi đó, những chiến lược hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường dường như chỉ là những khẩu hiệu.
2. Theo Bộ Công Thương, dự thảo Nghị định hàng hóa, dịch vụ địa bàn thực hiện độc quyền Nhà nước sẽ không làm tăng thêm hay mở rộng lĩnh vực độc quyền nhà nước. (Không tăng thêm lĩnh vực độc quyền nhà nước - Báo Năng lượng mới 15/2).
Những ngày qua, thông tin về dự thảo Nghị định về hàng hóa, dịch vụ, địa bàn thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại (dự thảo Nghị định), đặc biệt là về Danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại ban hành kèm theo dự thảo Nghị định đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội. Rất nhiều ý kiến phân tích, bình luận đã được đưa ra, trong đó có nhiều ý kiến cho rằng dự thảo sẽ mở rộng, làm tăng thêm lĩnh vực độc quyền nhà nước…
Trước những ý kiến trên, trong thông báo phát đi chiều 14/2, Bộ Công Thương khẳng định việc ban hành dự thảo Nghị định hàng hóa, dịch vụ địa bàn thực hiện độc quyền Nhà nước là cần thiết. Theo Khoản 4 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 quy định "Nhà nước thực hiện độc quyền Nhà nước có thời hạn về hoạt động thương mại đối với một số hàng hóa, dịch vụ hoặc tại một số địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia". Luật giao "Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền Nhà nước".
Tại văn bản số 130/TTg-KTTH ngày 27/1/2015, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng dự thảo Nghị định, bảo đảm phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các cam kết quốc tế có liên quan.
Cũng theo Bộ Công Thương, danh mục hàng hóa, dịch vụ địa bàn thực hiện độc quyền Nhà nước một khi được ban hành sẽ giúp hệ thống hóa và minh bạch hóa tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền nhà trong hoạt động thương mại phù hợp với cam kết quốc tế, các chính sách và quy định hiện hành, đồng thời là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các chủ thể khác trong xã hội thực hiện chức năng giám sát công khai việc thực hiện độc quyền nhà nước trong các lĩnh vực được liệt kê. Việc ban hành Danh mục còn giúp tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc bảo lưu quyền của Việt Nam trong các cuộc đàm phán quốc tế về mở cửa thị trường, qua đó tăng cường tính minh bạch cũng như tính hiệu quả của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Bộ Công Thương cũng khẳng định Dự thảo Nghị định và Danh mục được xây dựng với quan điểm chủ đạo là không mở rộng và không tăng thêm các lĩnh vực độc quyền nhà nước đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đồng thời phù hợp với các cam kết quốc tế hiện hành của Việt Nam.
Trên tinh thần đó, Bộ Công Thương đã phối hợp với các Bộ, ngành rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành để xác định các loại hàng hóa, dịch vụ sẽ được quy định tại Danh mục, trong đó có Luật An ninh, Luật Quốc phòng, Luật Điện lực, Luật Bưu chính, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Đường sắt, Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Nghị định số 24/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, Nghị định số 30/2007 về kinh doanh xổ số, Nghị định 67/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá...
Dựa trên kết quả rà soát, từ năm 2015, dự thảo Danh mục đã được đưa ra lấy ý kiến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp có liên quan; đồng thời được đăng tải trên website của Bộ Công Thương và Cổng thông tin điện tử Chính phủ để lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân trong toàn xã hội. Được biết, dự thảo Danh mục này cũng đã được Bộ Tư pháp thẩm định.
Tại thời điểm trình Chính phủ vào tháng 12 năm 2015, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, Danh mục dự kiến bao gồm 19 loại hàng hóa, dịch vụ và chi tiết hoạt động thương mại cần áp dụng độc quyền nhà nước. Tuy nhiên, sau khi tiếp thu ý kiến của các thành viên Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Danh mục đã được bổ sung thêm mặt hàng vàng nguyên liệu, với hoạt động thương mại độc quyền tương ứng là "xuất khẩu và nhập khẩu để sản xuất vàng miếng", nâng tổng số hàng hóa, dịch vụ tại Danh mục lên thành 20.
Toàn bộ các loại hàng hóa, dịch vụ được liệt kê tại Danh mục đều là các loại hàng hóa, dịch vụ hiện đang áp dụng độc quyền nhà nước, phù hợp với nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 4 dự thảo Nghị định là giới hạn phạm vi thực hiện độc quyền nhà nước chỉ trong các lĩnh vực, địa bàn thiết yếu mà Nhà nước cần phải giữ độc quyền liên quan đến an ninh - quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hoặc các thành phần kinh tế khác không muốn hay không có khả năng tham gia.
3. Năm 2016, bối cảnh kinh tế thế giới có những diễn biến khó lường, kinh tế trong nước gặp nhiều thách thức nhưng mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô đã đạt được. Tuy nhiên, những khó khăn trong năm 2016 có thể sẽ tiếp tục diễn ra trong năm 2017, thậm chí với mức độ lớn hơn, đặt ra thách thức lớn đối với điều hành chính sách kinh tế vĩ mô. (Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2017  - Tạp chí Tài chính 18/2).
Có thể nói, 2017 là năm quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020. Chính vì vậy, Quốc hội, Chính phủ đã quyết tâm phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% trong năm 2017. Nếu như năm 2017 không đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% thì việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng 6,5-6,7% của cả giai đoạn 2016-2020 sẽ rất khó khăn.
Tuy nhiên, 2017 dự báo sẽ là năm môi trường kinh tế thế giới có nhiều bất định hơn năm 2016, trong khi kinh tế trong nước vẫn đang tồn tại những vấn đề có tính cơ cấu dài hạn, chẳng hạn như vấn đề nợ xấu ngân hàng, nợ công... Những vấn đề dài hạn khiến tính linh hoạt của chính sách để đối phó với những bất định trong ngắn hạn càng thêm hạn chế; ngược lại, những bất định, khó khăn trong ngắn hạn lại làm chậm, thậm chí cạnh tranh nguồn lực với tiến trình giải quyết những vấn đề dài hạn.
Năm 2016, giá hàng hóa thế giới tiếp tục giảm với giá dầu thô WTI ước giảm 11,5% so với năm 2015, xuống mức bình quân cả năm là 43,07 USD/thùng. Do đó, sản lượng dầu khai thác trong nước đã phải cắt giảm 10%, ảnh hưởng đến tăng trưởng của ngành khai khoáng (ước ở mức âm 3,6%).
Giá xuất khẩu nông sản, thực phẩm trong năm 2016 cũng giảm 5,8%, cùng với thời tiết phức tạp, hạn hán kéo dài, đã ảnh hưởng đến tăng trưởng của ngành nông nghiệp (ước chỉ ở mức 0,05%).  
Sang năm 2017, theo dự báo của Cơ quan năng lượng Hoa Kỳ (EIA) giá dầu thô WTI sẽ tăng 17,6% so với năm 2016, lên mức 50,66 USD/thùng (cao hơn mức 48,67 USD/thùng của năm 2015). Với mức giá trên, ngành dầu khí có điều kiện tăng sản lượng khai thác dầu thô và ngành khai khoáng sẽ tăng trưởng dương trong năm 2017.
Giá nông sản cũng được Ngân hàng Thế giới dự báo sẽ tăng 1,4% trong năm 2017, giá tăng sẽ giúp ngành nông nghiệp giảm bớt khó khăn.
Sang năm 2017, tăng trưởng tiềm năng dự báo sẽ tiếp tục tăng lên mức 6,5% trong năm 2017, so với mức 6,2% trong năm 2016. Cộng với những cải thiện trong ngắn hạn của ngành nông nghiệp và khai khoáng nêu trên, tăng trưởng năm 2017 có khả năng đạt mức 6,7%.
III. GIÁO DỤC, XÃ HỘI
1. Cơ quan quản lý khẳng định sẽ tính toán thu thuế không chỉ bán hàng trên Facebook mà cả trên các mạng xã hội như Zalo, Instagram, YouTube... Thực tế, có đơn vị doanh thu cả tỉ đồng nhưng không nộp thuế... (Bán hàng trên Facebook phải nộp thuế - báo Tuổi trẻ 21/2).
Có tới 35% doanh nghiệp đang bán hàng trên mạng xã hội. Có thể tới hàng triệu cá nhân, hộ kinh doanh đang bán hàng trên Facebook với doanh thu lớn nhưng không nộp thuế.
Theo nhiều chuyên gia, điều này là không công bằng với những người nộp thuế. Bởi hiện nay, nhiều người bán quán ăn, quần áo cũng phải đóng thuế.
Là người đề xuất làm việc với Facebook để quản lý nguồn thu thuế, ông Phạm Thành Kiên - giám đốc Sở Công thương TP.HCM - nêu TP đang nỗ lực chống thất thu và thương mại điện tử (TMĐT) là một trong những mảng cơ quan, ban ngành cần để ý.
Khẳng định mảng này đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, ông Kiên nêu Sở Công thương TP.HCM sẵn sàng phối hợp với Cục Thuế TP.HCM để cùng bàn cách hỗ trợ, hợp tác để phòng chống thất thu thuế với mô hình kinh doanh mới này.
Ông Kiên công nhận hiện mảng quản lý TMĐT do Sở Công thương TP phụ trách, tuy nhiên đơn vị chỉ có thể nắm rõ số lượng các website đang hoạt động, tên miền nhưng doanh thu bán hàng thì chưa quản lý được.
Trong khi đó bà Lê Thị Hà, phó trưởng phòng pháp chế Cục TMĐT và công nghệ thông tin (Bộ Công thương), khẳng định theo quy định của nghị định 52 về TMĐT, người tham gia bán hàng qua mạng phải đóng thuế.
Đồng thời, theo chuyên gia của Bộ Công thương, quy định của Luật quản lý thuế năm 2006, bất kể doanh nghiệp hay cá nhân dù có đăng ký kinh doanh hay không, miễn có hoạt động mua bán phát sinh thu nhập đến mức chịu thuế thì có trách nhiệm phải thực hiện đăng ký, kê khai, nộp thuế theo quy định.
PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, trưởng bộ môn quản trị tài chính quốc tế, khoa tài chính quốc tế (Học viện Tài chính), công nhận việc quản lý, giám sát hoạt động bán hàng, thu thuế của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp bán hàng trên mạng gặp khó khăn. Bởi họ chủ yếu giao dịch bằng phương thức trao hàng - trả tiền, rất khó giám sát.
Việc kê khai thuế với những trường hợp kinh doanh nhỏ lẻ đều theo hình thức tự khai và tự tính, nên không ít cá nhân kê khai không đầy đủ để tránh nghĩa vụ thuế.
Hiện việc quản lý khó nhưng trước mắt, ông Thịnh cho rằng các cơ quan thuế cần yêu cầu phải có đăng ký kinh doanh với bán hàng qua mạng. Đồng thời, có thể kiểm soát một phần việc giao dịch trong tài khoản cá nhân và doanh nghiệp, trên cơ sở đó thu thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.
Về lâu dài, cần phải mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Từ kê khai, phối hợp với các cơ quan như quản lý thị trường kiểm tra sẽ quản lý được việc kinh doanh buôn bán của các hộ cá nhân, gia đình và doanh nghiệp.
3. Trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách hành chính nhà nước được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.  (Quyết liệt hơn để hoàn thành các mục tiêu cải cách hành chính  - Báo Tuổi trẻ 14/2).
Cải cách hành chính nhà nước còn là một trong những nội dung quan trọng của một trong ba đột phá chiến lược của Đảng là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo nhằm củng cố, phát triển nền hành chính nước nhà liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ tốt nhất quyền lợi của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển bền vững, thịnh vượng của đất nước.
Cải cách hành chính hiệu quả, là thực hiện học tập và làm theo Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân, về xây dựng, phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân...; học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về: hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tận trung với nước, tận hiếu với dân; hết lòng yêu thương đồng bào, đồng chí, yêu thương con người; học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy tính nhân văn, thấm đậm tinh thần yêu dân, trọng dân, vì dân; phong cách nói đi đôi với làm, đi vào lòng người…theo tinh thần Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII.
Mục đích của hoạt động công vụ được Đảng ta xác định rất rõ là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong nhà nước dân chủ nhân dân, hoạt động công vụ là phục vụ nhân dân, và những người thi hành công vụ là công bộc - đầy tớ của nhân dân – như Bác Hồ đã dạy, Nhà nước là cơ quan được ủy quyền để thực thi quyền lực nhân dân, để thực hiện và đảm bảo quyền, lợi ích và nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Nhận thức rõ tầm quan trọng đó của công tác cải cách hành chính, trong suốt chặng đường Đổi mới vừa qua, nhiều thế hệ lãnh đạo của TP. Hồ Chí Minh đã luôn bám sát, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện sát sao những định hướng, quan điểm, chủ trương, đường lối, của Trung ương để chủ động triển khai nhiệm vụ cải cách hành chính; nỗ lực trong điều hành, cải tiến phương pháp làm việc sâu sát lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp và người dân, xóa bỏ dần những rào cản về thủ tục và thái độ gây cản trở, nhũng nhiễu, phiền hà; gắn kết chính quyền với nhân dân, cùng chung tay xây dựng, phát triển thành phố.
Những nỗ lực không ngừng cải thiện chất lượng, hiệu quả của công tác cải cách hành chính tại TP. Hồ Chí Minh đã bước đầu mang lại nhiều kết quả tích cực, khả quan, đột phá thẳng vào những vấn đề cụ thể, thiết thực; không hô hào khẩu hiệu chung chung, nói đi đôi với làm, xây dựng chính quyền vì dân hành động và có sức lan toả sâu rộng, tác động mạnh mẽ, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, làm tròn trách nhiệm và nghĩa vụ của Thành phố đối với vùng và cả nước.
Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được và khắc phục những tồn tại, hạn chế khi thực hiện chương trình cải cách hành chính trong thời gian qua, Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X về chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020 với 5 mục tiêu cụ thể, trên cơ sở đồng bộ với thực hiện các nghị quyết và nguyên tắc của Đảng, hướng tới xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, năng động, chính quyền điện tử phù hợp với đô thị đặc biệt; tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, tận tụy phục vụ nhân dân; phấn đấu Chỉ số Cải cách hành chính (PAR index) của thành phố nằm trong nhóm 05 địa phương dẫn đầu của cả nước, xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình, đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Cải cách hành chính là một quá trình đầy gian nan, thử thách, phải vượt qua nhiều khó khăn, phức tạp. Trong đó cần có sự kiểm tra, đánh giá thường xuyên; xác định trọng tâm, trọng điểm qua từng thời đoạn; sử dụng các công cụ hữu hiệu để tạo đòn bẩy thúc đẩy; gắn với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; thu hút sự tham gia của các cơ quan truyền thông.

vụ được Đảng ta xác định rất rõ là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong nhà nước dân chủ nhân dân, hoạt động công vụ là phục vụ nhân dân, và những người thi hành công vụ là công bộc - đầy tớ của nhân dân – như Bác Hồ đã dạy, Nhà nước là cơ quan được ủy quyền để thực thi quyền lực nhân dân, để thực hiện và đảm bảo quyền, lợi ích và nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Nhận thức rõ tầm quan trọng đó của công tác cải cách hành chính, trong suốt chặng đường Đổi mới vừa qua, nhiều thế hệ lãnh đạo của TP. Hồ Chí Minh đã luôn bám sát, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện sát sao những định hướng, quan điểm, chủ trương, đường lối, của Trung ương để chủ động triển khai nhiệm vụ cải cách hành chính; nỗ lực trong điều hành, cải tiến phương pháp làm việc sâu sát lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp và người dân, xóa bỏ dần những rào cản về thủ tục và thái độ gây cản trở, nhũng nhiễu, phiền hà; gắn kết chính quyền với nhân dân, cùng chung tay xây dựng, phát triển thành phố.
Những nỗ lực không ngừng cải thiện chất lượng, hiệu quả của công tác cải cách hành chính tại TP. Hồ Chí Minh đã bước đầu mang lại nhiều kết quả tích cực, khả quan, đột phá thẳng vào những vấn đề cụ thể, thiết thực; không hô hào khẩu hiệu chung chung, nói đi đôi với làm, xây dựng chính quyền vì dân hành động và có sức lan toả sâu rộng, tác động mạnh mẽ, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, làm tròn trách nhiệm và nghĩa vụ của Thành phố đối với vùng và cả nước.
Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được và khắc phục những tồn tại, hạn chế khi thực hiện chương trình cải cách hành chính trong thời gian qua, Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X về chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020 với 5 mục tiêu cụ thể, trên cơ sở đồng bộ với thực hiện các nghị quyết và nguyên tắc của Đảng, hướng tới xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, năng động, chính quyền điện tử phù hợp với đô thị đặc biệt; tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, tận tụy phục vụ nhân dân; phấn đấu Chỉ số Cải cách hành chính (PAR index) của thành phố nằm trong nhóm 05 địa phương dẫn đầu của cả nước, xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình, đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Cải cách hành chính là một quá trình đầy gian nan, thử thách, phải vượt qua nhiều khó khăn, phức tạp. Trong đó cần có sự kiểm tra, đánh giá thường xuyên; xác định trọng tâm, trọng điểm qua từng thời đoạn; sử dụng các công cụ hữu hiệu để tạo đòn bẩy thúc đẩy; gắn với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; thu hút sự tham gia của các cơ quan truyền thông.
 
MTC


Xem tin theo ngày: 
ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH