< Trở về giao diện Mobile

Điểm báo tuần từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 21 tháng 3 năm 2017


I. VẤN ĐỀ NỔI BẬT
1. Với âm mưu, thủ đoạn thâm độc hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên thế giới, từ giữa thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Chiến lược “diễn biến hòa bình” được các thế lực thù địch tiến hành trên nhiều lĩnh vực như: Kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa; tấn công vào nhiều lực lượng, tổ chức chính trị-xã hội của các nước XHCN, trong đó, chúng xác định lực lượng vũ trang (LLVT) là một trọng điểm tấn công nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng quan trọng này. Phản ánh nội dung này, báo Quân đội nhân dân (17/3) có bài viết: Đưa nhanh Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống: Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.
Bài viết khẳng định: LLVT có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị của mọi nhà nước, nó có tổ chức chặt chẽ, được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật và được huấn luyện, đào tạo bài bản. Nhiệm vụ của LLVT do bản chất giai cấp, đường lối, chính sách của nhà nước, của tập đoàn xã hội tổ chức ra nó quyết định. Ở Việt Nam, các văn kiện của Đảng, các đạo luật của Nhà nước (Hiến pháp, Luật An ninh quốc gia, Luật Công an nhân dân, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam…) đều xác định LLVT nhân dân bao gồm Quân đội nhân dân (QĐND), Công an nhân dân (CAND). LLVT nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, có tính chất cách mạng và tính nhân dân sâu sắc (từ nhân dân mà ra, do nhân dân nuôi dưỡng, vì nhân dân mà chiến đấu); là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh, trật tự, vì mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền CNXH”, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
“Phi chính trị hóa” LLVT là một loại quan điểm, học thuyết, ban đầu do các học giả tư sản nêu ra; sau đó, các thế lực thù địch và số phần tử cơ hội lợi dụng, sử dụng khai thác nó như một thứ “vũ khí” lợi hại và hiệu quả bậc nhất. Họ lập luận rằng, việc tổ chức ra LLVT là để “bảo vệ lợi ích toàn dân tộc”, “lợi ích quốc gia”, đó là lợi ích tối cao, hơn tất cả (và chi phối) lợi ích của các giai cấp, đảng phái. Do đó, các LLVT phải có nghĩa vụ bảo vệ “lợi ích tối cao”, chỉ “trung thành” với Hiến pháp, đạo luật cao nhất của đất nước, phải đứng ngoài chính trị và các cuộc xung đột chính trị (tức là đứng ngoài các quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp”... Từ đó, họ phủ nhận bản chất giai cấp, chức năng chính trị-xã hội của LLVT trong xã hội. Đó là luận điệu phản khoa học, phi thực tiễn.
Thực chất, hay mục đích của luận điệu “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” LLVT mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị nêu ra là đòi tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với LLVT, đặt QĐND, CAND “đứng ngoài chính trị”, mất phương hướng chính trị và mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng tin cậy, tuyệt đối trung thành của Đảng, Nhà nước, của chế độ XHCN, dẫn đến suy yếu về chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và bị “vô hiệu hóa”. Bởi vì họ cho rằng, nếu không làm cho LLVT suy yếu, dao động về mặt tư tưởng, mất lòng tin vào Đảng, vào chế độ... thì không thể giành thắng lợi ở Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”.
Để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” LLVT, các thế lực thù địch, số cơ hội chính trị đã và đang sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt như: đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành của nước ta (quy định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội); đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; triệt để lợi dụng tình trạng tham nhũng, thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những khó khăn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta để kích động, gây chia rẽ, làm mất lòng tin của nhân dân, của cán bộ, chiến sĩ trong QĐND, CAND vào Đảng và chế độ XHCN.
Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” LLVT, kẻ thù trực diện đòi xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng trong QĐND và CAND; chúng đã xuyên tạc lịch sử, đảo lộn tính chất chính nghĩa của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; kích động gây mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân với QĐND, CAND, giữa QĐND với CAND… nhằm làm phai nhạt bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của LLVT nhân dân.
Trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, truyền bá lối sống thực dụng, hưởng thụ, buông thả, thờ ơ lãnh đạm, không quan tâm đến các vấn đề chính trị-xã hội…, tạo ra khoảng trống về ý thức hệ, hòng “pha loãng”, làm nhạt dần bản chất cách mạng, tạo điều kiện cho hệ tư tưởng tư sản thẩm thấu vào đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong QĐND và CAND; tạo ra sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, chiến sĩ, làm cho LLVT suy yếu về chính trị từ bên trong.
Các thế lực thù địch không ngừng tiến hành các hoạt động tác động, kích động, lôi kéo số phản động trong nước, cơ hội chính trị, kêu gọi một số trí thức gây sức ép phê phán Đảng, khoét sâu những sai sót trong thực hiện chính sách, pháp luật, nhất là những vụ việc có sự tham gia giải quyết của lực lượng Công an, Quân đội… nhằm hạ uy tín của Đảng ta, phủ nhận khả năng lãnh đạo của Đảng đối với QĐND, CAND. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội đang chú ‎ý tìm chọn, tiến hành, tác động, hỗ trợ, cổ xúy cho một số người có vị trí, uy tín trong xã hội để xây dựng làm “ngọn cờ”, từ đó tập hợp lực lượng, tiến hành các hoạt động tác động vào quá trình hoạch định, xây dựng đường lối, chính sách, xây dựng pháp luật, nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” LLVT.
Điều này càng trở nên cực kỳ nguy hiểm trong điều kiện hiện nay, bởi vì, các thế lực thù địch đang có những “điều kiện thuận lợi” để tiến hành “diễn biến hòa bình”, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” đối với các lực lượng vũ trang khi các yếu tố bên trong “có vấn đề”, như Đảng ta đã chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng”(3); “nhiều tổ chức đảng, đảng viên... lơ là mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(4). “Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm, khôn lường...”(5).
Bài viết cho rằng: Để tiến hành đấu tranh trên mặt trận tư tưởng-lý luận, chống âm mưu "phi chính trị hóa” LLVT có hiệu quả, cần tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lý luận, cán bộ chính trị trong QĐND, CAND có đủ phẩm chất và năng lực, nhạy bén, sắc sảo trong đấu tranh; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho lực lượng này tích cực tham gia đấu tranh với các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng - lý luận. Công tác tư tưởng phải góp phần đắc lực trong việc xây dựng, nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ ở mọi lúc, mọi nơi, làm cho mọi người “miễn dịch” trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, sớm kết luận những vấn đề mới từ thực tiễn đấu tranh với âm mưu, hoạt động đòi “phi chính trị hóa” LLVT; đề cao sự thống nhất với quan điểm, đường lối của Đảng, sự đồng thuận trong toàn quân và toàn dân.
2. Bộ Tài chính vừa thông tin về dự thảo nghị định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trong đó có điểm mới liên quan đến đất đai khi cổ phần hóa.  Ngăn gom 'đất vàng' khi cổ phần hóa (báo Tuổi trẻ 18/3).
Trước hết, phải tính đúng tính đủ đất phục vụ kinh doanh theo nguyên tắc giá thị trường vào trong giá trị DN.
Với đất dôi dư (nhà khách, văn phòng, đất trống...) của DNNN chính là miếng bánh ngon mà nhà đầu tư muốn gom để sau này chuyển sang các mục đích khác như làm bất động sản... thì phải tính khác.
Đó là xác lập quan điểm với đất dôi dư, Nhà nước phải thu hồi. Tất nhiên đơn vị cổ phần hóa sẽ có nhiều lý lẽ để giữ lại phần đất dôi dư này, như đó là tiềm năng để họ mở rộng sản xuất kinh doanh sau này.
Để hóa giải lý lẽ này không khó, chỉ cần dựa vào số liệu kinh doanh 5-10 năm gần nhất sẽ biết được tốc độ tăng trưởng trung bình của DN hay ngành nghề đó là bao nhiêu và cần bao nhiêu đất đai.
Không thể có chuyện thần kỳ xảy ra sau khi cổ phần hóa tốc độ tăng trưởng cao lên gấp hàng chục lần, để rồi lấy đó làm lý lẽ tiếp tục nắm giữ các mảnh đất dôi dư này.
Nếu Nhà nước kiên quyết thu hồi các khu đất dôi dư này của toàn bộ khối DNNN trên cả nước sẽ tạo ra được quỹ đất hậu cổ phần hóa khổng lồ. Khi đó, Nhà nước sẽ tổ chức đấu giá, tạo ra công năng mới để phát huy tối đa nguồn lực đất đai này.
Và việc gì cũng phải sòng phẳng. Với những khu đất vàng đã “lỡ” trao cho nhà đầu tư trong quá trình cổ phần hóa trước đây thì sao?
Nếu DN cổ phần hóa không sử dụng đúng mục đích so với hồ sơ ban đầu thì mỗi năm phải điều chỉnh lại theo giá trị trường.
Trên cơ sở đó, Nhà nước sẽ thiết lập một loại thuế hoặc khoản phí để điều tiết và cũng xem như là phạt, do sử dụng đất sai mục đích ban đầu.
Các giải pháp xử lý đất đai trong quá trình cổ phần hóa cần phải tuân thủ nguyên tắc tối hậu là tài sản của Nhà nước thì phải trả về cho Nhà nước.
Không tuân thủ nguyên tắc này, vấn đề đất đai trong cổ phần hóa rồi lại đâu cũng vào đấy: quy định mới sẽ ban hành tới đây nhìn có vẻ chặt chẽ, nhưng không khéo tài sản công vẫn cứ chạy vào tay của các nhóm lợi ích.
3. Bộ Tài chính vừa xây dựng Dự thảo nghị định mới về chuyền doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần thay thế Nghị định 59, Nghị định số 188 và Nghị định 116 của Chính phủ trước đó. Việc này được cho nhằm chuẩn bị cho kế hoạch cổ phần hoá doanh nghiệp giai đoạn 2016 - 2020 theo đúng lộ trình được Chính phủ đưa ra trong Quyết định 58 của Chính phủ. Vá lỗ hổng khiến “đất vàng” doanh nghiệp nhà nước có giá “bèo” (Thời báo Kinh tế Việt Nam 17/3).
Điểm mới của Nghị định này đó là điều chỉnh tiêu chí lựa chọn và có chính sách bán cổ phần phù hợp cho cổ đông chiến lược đối với doanh nghiệp cổ phần hoá; xử lý đất đai và xác định giá trị quyền sử dụng đất trong giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá; xử lý các vấn đề về tài chính trước và trong quá trình cổ phần hoá được tăng cường đảm bảo ngăn chặn thất thoát vốn và tài sản nhà nước.
Trong đó, xử lý đất đai và xác định giá trị quyền sử dụng đất trong giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá được coi là vấn đề quan tâm nhất trong quá trình cổ phần hoá trong thời gian qua. Tại dự thảo tiếp tục hướng dẫn việc xác định giá đất cụ thể (cả thuê và giao) theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
Theo đó, căn cứ giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nơi doanh nghiệp có diện tích đất được giao và thuê) công bố, doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm tính vào giá trị doanh nghiệp và nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về đất đai.
Quy định phương án sử dụng đất của doanh nghiệp phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt phù hợp với quy định về sắp xếp lại, xử lý nhà, đất theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng tại địa phương trước khi tổ chức thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp sẽ đảm bảo ngăn ngừa tình trạng doanh nghiệp lợi dụng tiếp tục nắm giữ, “ôm” lại toàn bộ diện tích đất đang quản lý mặc dù chưa phù hợp ngành nghề kinh doanh, mục đích sử dụng đất cũng như quy hoạch của địa phương.
Khi thực hiện phê duyệt phương án sử dụng đất của doanh nghiệp cổ phần hóa, Nhà nước đã phải rà soát và quyết định thu hồi những diện tích đất doanh nghiệp sử dụng chưa phù hợp và không đúng quy hoạch; những diện tích đất mà doanh nghiệp cổ phần hóa được tiếp tục sử dụng đã được tính toán, hướng dẫn đảm bảo phù hợp với pháp luật đất đai hiện hành.
Ông Đặng Quyết Tiến, Phó cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp, cho biết để tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm, dự thảo Nghị định đã quy định rõ công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện quản lý và sử dụng đất của doanh nghiệp theo đúng mục đích, đúng phương án sử dụng của toàn bộ diện tích đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Trong trường hợp công ty cổ phần được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công ty cổ phần phải thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất và thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước theo giá thị trường tại thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Ngoài ra, Nghị định còn đề cập đến chính sách bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá, về cơ bản chính sách ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp đã được kế thừa và duy trì qua các giai đoạn.
Về các phương thức bán cổ phần lần đầu, ngoài 3 phương thức bán cổ phần hiện hành (đấu giá công khai, bảo lãnh phát hành, thỏa thuận trực tiếp), dự thảo Nghị định bổ sung thêm phương pháp mới là phương pháp dựng sổ (Book building).
Dự thảo còn nhấn mạnh việc kiểm tra, giám sát và nâng cao năng lực và trách nhiệm của các tổ chức tài chính trung gian, các công ty kiểm toán, tư vấn... khi tham gia hoạt động hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi doanh nghiệp.
Ông Tiến cũng khẳng định, với những điểm đổi mới cơ bản trong Dự thảo nghị định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, sau khi Chính phủ xem xét, ban hành sẽ tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần nói riêng trong thời gian tới có hiệu quả, ngăn chặn thất thoát vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.
4. Dự thảo nghị định mới về chuyển DNNN thành công ty cổ phần sẽ xóa bỏ quy định nhà đầu tư chiến lược phải có cùng ngành nghề kinh doanh chính của DN, thay vào đó chỉ cần có năng lực tài chính, có kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tốt. Nới lỏng chính sách để thu hút nhà đầu tư mua cổ phần DNNN (Thời báo tài chính Việt Nam 16/3).
Theo quy định hiện hành, nhà đầu tư chiến lược mua cổ phần tại DN CPH có nghĩa vụ phải cung cấp các nguồn lực theo cam kết cho DN nhưng không được bán cổ phiếu trong vòng 5 năm, điều này dẫn tới quyền lợi của các nhà đầu tư chiến lược bị hạn chế so với nghĩa vụ phải thực hiện. Bên cạnh đó, việc bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược thời gian qua chưa đảm bảo tính công khai, minh bạch và dễ dẫn đến thất thoát vốn Nhà nước.
Để khắc phục hạn chế trên, dự thảo nghị định điều chỉnh quy định việc bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược theo hướng quy định rõ trách nhiệm bồi thường khi vi phạm các cam kết của nhà đầu tư chiến lược, phải được thể hiện trong cam kết bằng văn bản của người có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, dự thảo điều chỉnh việc bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược thực hiện sau cuộc bán đấu giá công khai, bỏ hình thức bán thỏa thuận trước. Ngoài ra, thay đổi thời gian hạn chế chuyển nhượng cổ phần của nhà đầu tư chiến lược là 3 năm.
Đặc biệt, dự thảo xóa bỏ quy định nhà đầu tư chiến lược phải có cùng ngành nghề kinh doanh chính của DN, chỉ cần có một số tiêu chuẩn như: có năng lực tài chính; có kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 2 năm gần nhất (tính đến thời điểm đăng ký mua cổ phần) phải có lãi và không có lỗ lũy kế...
Dự thảo nghị định cũng đã bổ sung quy định về xử lý đất đai đối với các DN quản lý nhiều đất đai ở những vị trí có lợi thế thương mại cao theo hướng yêu cầu DN CPH có trách nhiệm xây dựng phương án sử dụng đất trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định. DN phải xác định lại giá đất sát với giá thị trường.
Thêm vào đó, dự thảo nghị định cũng có các giải pháp tăng cường xử lý các vấn đề về tài chính trước và trong quá trình CPH nhằm đảm bảo ngăn chặn thất thoát vốn và tài sản nhà nước.
Ngoài ra, về chính sách bán cổ phần cho người lao động trong DN CPH, dự thảo đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho người lao động nắm giữ cổ phần tại DN sau cổ phần. Dự thảo cũng điều chỉnh theo hướng người lao động được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc tại khu vực nhà nước, với giá bán bằng 60% giá trị một cổ phần tính theo mệnh giá. Phần giá trị ưu đãi này được trừ vào vốn nhà nước khi quyết toán và người lao động chỉ phải bỏ tiền để thanh toán 60% giá trị một cổ phần theo mệnh giá.
Một điểm quan trọng nữa dự thảo đề cập đến là về các phương thức bán cổ phần lần đầu, ngoài 3 phương thức bán cổ phần hiện hành, dự thảo bổ sung thêm phương pháp mới là phương pháp dựng sổ.
Về vấn đề này, trả lời câu hỏi liên quan đến câu chuyện gia đình Thứ trưởng Bộ Công thương Hồ Thị Kim Thoa nắm tài sản khủng tại Công ty CP Điện Quang, đại diện Cục Tài chính DN cho biết: Hiện tượng thâu tóm cổ phần tại Công ty CP Điện Quang là do quá trình thực hiện bán vốn tại công ty cổ phần.
Song song với những nội dung quan trọng nêu trên, dự thảo cũng tăng cường kiểm tra, giám sát và nâng cao năng lực và trách nhiệm của các tổ chức tài chính trung gian, các công ty kiểm toán, tư vấn... khi tham gia hoạt động hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi DN.
Với những quy định vừa “mở”, nới lỏng cho nhà đầu tư, vừa siết chặt việc quản lý, nhất là đối với đất đai, dự thảo nghị định mới về chuyển DNNN thành công ty cổ phần được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của DN cũng như chuyển đổi DN 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần trong thời gian tới và ngăn chặn thất thoát vốn và tài sản nhà nước tại DN./.

II. KINH TẾ PHÁT TRIỂN
1.  Ngành nông nghiệp hướng đến năm 2020 xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, áp dụng khoa học công nghệ để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao. Quá trình cơ cấu lại ngành lấy nông dân làm chủ lực, doanh nghiệp làm tiên phong... Tái cơ cấu ngành nông nghiệp: Nông dân chủ lực, doanh nghiệp tiên phong (báo điện tử Dân Việt 20/3).
Theo đánh giá của Bộ NNPTNT, sau hơn 3 năm thực hiện cơ cấu ngành nông nghiệp, toàn ngành đã duy trì tăng trưởng, giá trị sản xuất toàn ngành tăng, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khá. Tuy nhiên trong quá trình phát triển còn bộc lộ nhiều hạn chế, kết quả chưa rõ nét, chưa đồng đều giữa các địa phương, vùng, miền. Các vấn đề đất đai, thị trường, công nghiệp chế biến, quản lý chất lượng vật tư đầu vào và an toàn thực phẩm… còn nhiều bất cập.
Về mục tiêu quá trình triển khai đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, bà Nguyễn Thị Hồng – Vụ trưởng Vụ Kế hoạch (Bộ NNPTNT) cho biết: “Bộ đặt ra mục tiêu tốc độ tăng GDP ngành nông nghiệp đạt tối thiểu 3%/năm, tốc độ tăng thu nhập trên 1ha đất trồng trọt đạt trên 3%/năm, thu nhập từ chăn nuôi bình quân đạt 5%/năm, tốc độ tăng trưởng sản xuất thủy sản đạt 5%/năm…
Đóng góp vào kế hoạch cơ cấu lại ngành trồng trọt, ông Lê Văn Bình – Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Văn phòng Quốc hội cho rằng: “Ngành trồng trọt có dư địa lớn để tăng trưởng nếu đầu tư khoa học công nghệ, cho nên nếu đặt mục tiêu ngành trồng trọt 3% khá khiêm tốn, chúng ta có thể đặt mục tiêu 3,2-3,5%. Ngành trồng trọt sẽ có cơ hội phát triển sâu nếu chúng ta đẩy mạnh đầu tư khoa học công nghệ, áp dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng giống cây trồng”.
Ông Bình cho biết thêm, hiện nay, những vấn đề khó khăn để nông dân cũng như doanh nghiệp mở rộng sản xuất làm ăn lớn là thuế, phí và tín dụng. Bộ NNPTNT cần đưa ra các chính sách, kiến nghị đề xuất cụ thể rõ ràng về tín dụng và có lộ trình thực hiện.
Đối với ngành chăn nuôi, ông Nguyễn Xuân Dương – Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NNPTNT) cho biết: “Thị trường tiêu thụ cho sản phẩm nông nghiệp đang là một vấn đề cần được làm rõ. Chúng ta cần xác định rõ mục tiêu thị trường, các sản phẩm nông nghiệp bán cho thị trường nào, kế hoạch cụ thể  cũng như lộ trình thực hiện ra sao. Trong điều kiện nước ta hội nhập cao, tính cạnh tranh rất lớn, cây ăn trái, thịt gia súc gia cầm nước ngoài đã tràn vào thị trường trong nước rất mạnh. Chúng ta đang bị cạnh tranh ngay trên sân nhà. Vì vậy, bên cạnh mở rộng thị trường nước ngoài, cần tính toán cả nhu cầu thị trường trong nước, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng”.
2. Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2016, vừa được công bố đã chỉ ra những bước chuyển đổi quan trọng của Việt Nam trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Bước chuyển quan trọng trong thu hút FDI (báo Đầu tư 17/3).
Chưa cập nhật số liệu của những tháng đầu năm 2017, mà chỉ dùng con số vốn FDI giải ngân năm 2016 là 15,8 tỷ USD, Báo cáo PCI năm 2016 đã chỉ ra rằng, đây chính là một “bước chuyển” quan trọng trong quỹ đạo phát triển kinh tế của Việt Nam. Đây là mức giải ngân mà theo ông Đậu Anh Tuấn, Giám đốc Dự án PCI Việt Nam, là mức giải ngân cao nhất trong suốt giai đoạn cải cách của Việt Nam.
Thực tế đã nhiều lần được nhấn mạnh và cũng đã lại một lần nữa được chỉ ra trong Báo cáo PCI 2016. Đó là thông thường, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ thâm nhập thị trường từng bước một, việc có giấy phép đầu tư quy mô lớn giúp tạo không gian cho doanh nghiệp phát triển sau này, nhưng họ chỉ phân bổ vốn đầu tư từ từ theo thời gian. Điều này cho phép nhà đầu tư có thêm thời gian để tìm hiểu về thị trường Việt Nam và xây dựng niềm tin đối với các thiết chế trong thị trường này.
Vì những lý do đó, rất nhiều dự án không giải ngân ngay toàn bộ số vốn đã cam kết. Và cũng vì thế, theo số liệu mới nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tổng vốn FDI cam kết là 297 tỷ USD lũy kế đến tháng 2/2017, mới có 156,35 tỷ USD được giải ngân, bằng 52,6% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.
Đã từng có thời điểm, câu hỏi được đặt ra rằng, hàng chục, thậm chí là hàng trăm tỷ USD đã đăng ký đó đi đâu? Câu trả lời trước tiên là ở chính xu hướng đầu tư theo giai đoạn của các nhà đầu tư nước ngoài. Tất nhiên, một phần rất quan trọng, thậm chí là quan trọng nhất, đó là nằm ở những dự án quy mô hàng tỷ USD đã đăng ký đầu tư từ lâu nhưng chưa triển khai.
Xét trên khía cạnh ấy, những năm gần đây, vốn FDI vào Việt Nam phần nhiều là vốn thực, nên đã góp phần thúc đẩy giải ngân tăng mạnh. Ngay cả các dự án quy mô hàng tỷ USD của các nhà đầu tư nước ngoài, ví dụ Samsung, LG…, ngay sau khi được cấp chứng nhận đầu tư, đã được đưa vào giải ngân ngay.
Những dự án FDI nhanh chóng được triển khai như vậy đã “thúc” vốn FDI giải ngân tăng nhanh. Theo số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, hai tháng đầu năm 2017, vốn FDI giải ngân vẫn tiếp tục xu hướng tích cực, với 1,55 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ.
Vốn FDI giải ngân nhanh sẽ góp phần quan trọng tăng năng lực sản xuất cho Việt Nam. Hai tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI đã đạt tới 19,709  tỷ USD, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2016 và chiếm 72% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Theo Cục Đầu tư nước ngoài, 2 tháng đầu năm 2017, vốn FDI giải ngân vẫn tiếp tục xu hướng tích cực, với 1,55 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ. Chỉ số Đầu tư mới được tính toán xếp hạng dựa trên tỷ lệ nguồn vốn đầu tư mới trên toàn cầu của một quốc gia so với tỷ lệ GDP toàn cầu của quốc gia đó. Số điểm mà fDi Intelligence chấm cho Việt Nam là 6,45 điểm, có nghĩa năm 2016, Việt Nam đã thu hút lượng vốn FDI gấp hơn 6 lần so với mức kỳ vọng từ tỷ lệ đóng góp trong sản lượng toàn cầu. Và điều này đã giúp Việt Nam bứt lên hẳn so với những đối thủ cạnh tranh gần đây nhất của mình, như Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc…
Cũng cần phải nhắc lại rằng, cách đây chưa lâu, khi được hỏi về “đối thủ” lớn nhất của Việt Nam trong thu hút FDI, ông Bùi Quang Vinh - lúc ấy là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã không ngần ngại nhấn mạnh, đó là chính mình. “Nếu không biết vượt lên chính mình, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, Việt Nam sẽ thua trong cạnh tranh thu hút FDI”, nguyên Bộ trưởng Bùi Quang Vinh đã nói như vậy.
Và bây giờ, nhiều tín hiệu cho thấy, Việt Nam đang biết vượt lên chính mình. Theo các chuyên gia của Dự án PCI, một chính sách FDI thành công không chỉ dừng lại ở việc thu hút nguồn vốn, mà còn là việc tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, cho phép nguồn vốn FDI đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế. “Về điểm này, chúng tôi cũng nhận thấy những dấu hiệu tích cực”, ông Đậu Anh Tuấn nói và cho biết, những dấu hiệu tích cực này đến từ những nỗ lực của Việt Nam trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đặc biệt kể từ khi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực.
Những điểm mới liên quan tới cách tiếp cận từ “chọn cho” sang “chọn bỏ”, rồi cho phép doanh nghiệp được đăng ký thành lập trực tuyến, cho phép các dự án FDI mà nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ dưới 51% vốn điều lệ không cần phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư… được cho là đã tạo được thuận lợi đáng kể cho Việt Nam trong thu hút đầu tư.
III. VĂN HÓA XÃ HỘI
1. Muốn chống lại nạn xâm hại tình dục trẻ em, chúng ta đừng im lặng. Hãy hành động và lên tiếng mạnh mẽ ngay khi phát hiện sự việc là phát biểu của ông Nguyễn Lữ Gia, cán bộ Tổ chức Cứu trợ trẻ em thế giới tại Việt Nam (Save the Children) trong bài: Cùng lên tiếng và hành động quyết liệt (báo Người Lao động 19/3).
Theo ông Nguyễn Lữ Gia, thực tế cho thấy từ các vụ XHTD, rất nhiều thủ phạm gây ra chính là người thân trong gia đình, như: anh ruột, cha ruột, cha dượng, bà con… Đã có nhiều phụ huynh lựa chọn giải pháp im lặng để giữ phẩm giá, danh dự cho trẻ, gia đình và dòng họ. Đôi khi còn vì lo sợ thủ phạm là người thân phải đối mặt với bản án nghiêm khắc.
Tuy nhiên, nếu càng giữ kín thì hành vi xâm hại còn có khả năng tái diễn. Bên cạnh đó, nếu trẻ bị XHTD tiếp tục sống chung với người từng xâm hại mình thì dễ bị tổn thương về mặt tình cảm, tâm lý. Trẻ sẽ cảm thấy sợ hãi, luôn sống trong cảm giác bất an khi đối diện với thủ phạm. Ngoài ra, có những trường hợp trẻ bị XHTD không được can thiệp, tư vấn kịp thời đã dần hình thành thói quen, thậm chí chấp nhận các hành vi xâm hại từ thủ phạm và có hành vi tương tự với người khác.
Nếu phát hiện trẻ bị XHTD, phụ huynh cần bình tĩnh giữ nguyên chứng cứ, thẳng thắn xác định đây là hành vi vi phạm pháp luật nên phải trình báo cơ quan chức năng. Đồng thời, đưa nạn nhân đến các cơ sở y tế, dịch vụ tư vấn tâm lý để giám định, chữa trị các tổn thương về mặt thể chất, tâm lý có thể xảy ra với trẻ. Đừng im lặng bởi như thế, hậu quả có thể sẽ càng nghiêm trọng hơn.
Cũng theo ông Gia, bình thường, chúng ta không thể xác định được một ai đó có hành vi XHTD là do ham muốn tình dục hay các vấn đề tâm lý. Do đó, khi thấy ai đó có dấu hiệu hay các hành vi XHTD trẻ em, chúng ta phải lập tức can thiệp, ngăn chặn kịp thời, không để hành vi xâm hại có thể diễn ra; đồng thời, sớm thông báo với người nhà nạn nhân để trực tiếp hoặc cùng người nhà nạn nhân làm đơn tố giác hành vi này với các cơ quan có liên quan. Phải xác định rằng không vì tình cảm mà bao che cho thủ phạm hay cố giữ im lặng vì nếu vậy, chúng ta thậm chí có thể bị xử lý về “Tội không tố giác tội phạm”.
2. Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đang được tính quá vụn vặt, thang mức thuế quá dày, mức thu nhập phải chịu thuế cao nhất lại chưa hẳn cao. Điều này khiến người nộp thuế, doanh nghiệp (DN) gặp khó khăn. Thuế thu nhập cá nhân rối tinh vì lắm bậc (báo Tiền phong 18/3).
Để tránh những rắc rối, không ít DN xây dựng chọn cách chỉ thuê một đội trưởng, người này tự đi tìm đội thợ, lương trả cho thợ công ty sẽ tìm cách khác để hợp thức hóa khoản chi. “Cách làm này cũng không dễ, nhưng DN tránh được những rủi ro về chấp hành thuế”, chị Oanh nói.
Ngoài ra, theo các DN, thu nhập chịu thuế của lao động ngắn hạn hiện nay tính ở mức quá thấp (trên 2 triệu đồng sẽ phải nộp thuế), trong đó tính cả các khoản phụ cấp, như tiền ăn trưa, đi lại, điện thoại, nhà trọ… Một số khoản phụ cấp được khấu trừ, nhưng đạt điều kiện được khấu trừ không dễ. Như để được khấu trừ phụ cấp nhà trọ, DN phải trình được hóa đơn chủ nhà trọ đã nộp thuế cho thuê nhà. Nhưng cả nước không được mấy nhà trọ nộp thuế.
Theo Bộ Tài chính, năm 2016, thuế TNCN đóng góp trên 57.000 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước (vượt qua đóng góp của ngành dầu khí). Năm 2017, dự toán thu thuế TNCN trên 80.000 tỷ đồng. Riêng 2 tháng đầu năm 2017, thu thuế TNCN đạt 15.932 tỷ đồng.
Hiện biểu thuế TNCN được tính lũy tiến và chia làm 7 bậc - thấp nhất 5% và cao nhất lên tới 35%, áp theo mức thu nhập chịu thuế từ dưới 5 đồng/tháng tới trên 80 triệu đồng/tháng. Nhiều ý kiến cho rằng, cách chia này quá dày, mức thu cao. Đặc biệt, khung thuế TNCN tối đa đang áp ở mức thu nhập quá thấp (từ trên 80 triệu đồng/tháng phải chịu thuế TNCN 35%).
Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, cho rằng, hiện các mức thuế TNCN quá nhiều bậc và dày. Bà Cúc lưu ý: Số bậc thuế có thể không cần bớt nhưng cần tăng khoảng cách thu nhập giữa các mức thuế. Như mức thuế TNCN 5% thay vì áp dụng cho người có thu nhập chịu thuế dưới 5 triệu đồng, có thể nâng lên 10 hoặc 15 triệu đồng/tháng... “Việc nới rộng như vậy tuy giảm số tiền thuế thu được của từng người, nhưng sẽ khuyến khích nhiều người hơn tham gia đóng thuế để bù vào, thay vì phải lách thuế. Như thế, người có thu nhập ở mức vừa phải có thêm tích lũy”, bà Cúc nói.
Lý giải về sự dày bậc này, ông Nguyễn Duy Minh, Phó Vụ trưởng Quản lý Thuế TNCN (Tổng cục Thuế) lại cho rằng: Việc chia mức thuế TNCN thành nhiều bậc, các bậc gần nhau nhằm đảm bảo người nộp thuế bình đẳng hơn. “Chia nhiều bậc đảm bảo công bằng hơn, nhưng phức tạp, chúng tôi đang nghiên cứu để có giải pháp tạo thuận tiện nhất cho người nộp thuế”, ông Minh nói.
Liên quan tới các quy định tính thuế TNCN với lao động ký hợp đồng ngắn hạn (đặc biệt lao động dưới 3 tháng), ông Minh cho rằng, quy định này còn liên quan tới tính thuế thu nhập DN. “Chi phí thuê lao động được tính là chi phí hợp lý để khấu trừ thuế với DN, nên nếu doanh nghiệp thuê ai phải có danh sách cụ thể, có kê khai thuế TNCN mới được trừ. Còn ngành thuế cho phép người lao động có mã số thuế cá nhân được tự cam kết mức lương chưa tới mức phải chịu thuế (dưới 9 triệu đồng/tháng – PV) để được miễn thuế”, ông Minh nói.
3. Tại hội thảo “Rà soát thể chế, chính sách chuỗi giá trị lúa gạo” do Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế T.Ư (CIEM) tổ chức, các chuyên gia kinh tế khuyến nghị Nhà nước thay đổi tư duy với lúa gạo. Trong bối cảnh cầu tăng, cung giảm lại thêm tác động của biến đổi khí hậu, ngành lúa gạo khó tránh khỏi một tương lai ảm đạm nếu tiếp tục duy trì diện tích và sản lượng như hiện nay. Thay đổi tư duy với lúa gạo (báo Người đại biểu nhân dân 18/3).
Thay mặt nhóm nghiên cứu, TS. Đặng Quang Vinh (CIEM) cho biết, kết quả rà soát cho thấy thể chế, chính sách đối với đất trồng lúa và sản xuất thời gian qua đều hướng tới mục tiêu duy trì sản lượng cao vì an ninh lương thực. Ví dụ, Nghị quyết 63/2009 của Chính phủ yêu cầu duy trì sản lượng lúa 41 - 42 triệu tấn lúa/năm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn gạo/năm. Hoặc Nghị định 35/2015 tăng mức hỗ trợ với người trồng lúa nhằm tạo động cơ giữ 3,8 triệu hécta đất trồng lúa.
Các chuyên gia trong ngành nông nghiệp cũng lo ngại việc giữ 3,8 triệu hécta đất trồng lúa có thể gây ra tác động ngược.  Chẳng hạn, “nông dân sẽ bỏ ruộng vì không được nuôi trồng loại cây, con khác cho thu nhập cao hơn. Cơ hội thoát nghèo của nông dân cũng bị giảm”, TS. Đặng Quang Vinh nói. Ông dẫn dữ liệu điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam năm 2016 cho thấy: Hộ buộc phải trồng lúa có thu nhập từ nông nghiệp trung bình 1,576 triệu đồng/năm; hộ không phải trồng lúa có thu nhập từ nông nghiệp trung bình 2,139 triệu đồng/năm. “Tình trạng nông dân bỏ ruộng tăng lên vừa làm giảm sản lượng gạo, vừa gây lãng phí lớn về đất đai và sự bất công đối với những người có nhu cầu sử dụng mà không có đủ đất để canh tác”, bà Phạm Chi Lan bổ sung. Mặt khác, chính quyền các cấp sẽ tập trung thực hiện nhiệm vụ bảo vệ diện tích đất trồng lúa hơn là quan tâm và có những sáng kiến cải thiện sản xuất, kinh doanh nông sản ở địa phương.
Nhóm nghiên cứu của CIEM cho rằng, trong bối cảnh cung tăng, cầu giảm lại thêm tác động của biến đổi khí hậu và số nông dân bỏ ruộng sẽ nhiều hơn do thu nhập trồng lúa thấp, nếu tiếp tục duy trì diện tích và sản lượng thì ngành lúa gạo khó tránh khỏi một tương lai ảm đạm. “Việt Nam không cần tới 3,8 triệu hecta đất trồng lúa”, nhóm nghiên cứu khẳng định và đề xuất bỏ mục tiêu duy trì sản lượng thóc và lượng gạo xuất khẩu. “Nên bỏ quy hoạch đất trồng lúa ở những vùng trồng lúa không có hiệu quả. Giảm các vùng quy hoạch trồng lúa ở đồng bằng sông Mekong và đồng bằng sông Hồng”, chuyên gia Phạm Chi Lan khuyến nghị.
Liên quan đến thể chế, chính sách xuất khẩu gạo, nhóm nghiên cứu của CIEM cho rằng, xuất khẩu gạo là sân chơi bất bình đẳng, rào cản gia nhập cao, thể hiện rõ nhất ở Nghị định 109/2010/NĐ-CP. “Chúng tôi đã nói nhiều lần về vấn đề này rồi”, TS. Đặng Quang Vinh cho biết. Theo nhóm nghiên cứu, vô số những điều kiện bất hợp lý trong xuất khẩu gạo đã làm thui chột cạnh tranh và sáng tạo, giảm đầu tư, tạo ra bất bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, trái ngược với tinh thần của Hiến pháp. Vị thế độc quyền của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) dễ dẫn đến xin - cho, tiêu cực; tạo động cơ “ngồi mát ăn bát vàng” cho một số doanh nghiệp và hạn chế những mô hình sản xuất quy mô nhỏ nhưng giá trị cao.
Vì vậy, CIEM khuyến nghị bỏ các điều kiện xuất khẩu gạo hiện nay quy định trong Nghị định 109/2010/NĐ- CP, tạo điều kiện cho xuất khẩu gạo chất lượng cao, giá trị gia tăng cao với khối lượng nhỏ. Đồng thời, bỏ các đặc quyền có tính quản lý nhà nước của VFA, tổ chức lại VFA như một hiệp hội ngành hàng bình thường, có sự tham gia của các thành phần trong chuỗi lúa gạo, nhất là người sản xuất trực tiếp, các thành viên có quyền và nghĩa vụ ngang nhau.
Các chuyên gia dự hội thảo cho rằng, thị trường trong nước đã và sẽ tiếp tục là thị trường tiêu thụ chủ yếu của gạo Việt. Vì vậy, phải hết sức coi trọng thị trường này. Thị trường trong nước cũng có những phân khúc khác nhau và sẽ có những chuyển động liên tục về thị hiếu, nhu cầu, đòi hỏi của người tiêu dùng, trước hết về tính an toàn và dinh dưỡng của gạo. Theo nhận định của TS. Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, tiêu dùng gạo sẽ ngày càng giảm và hướng tới chất lượng. Trong 5 năm tới, thị trường gạo sẽ chứng kiến sự cạnh tranh gay gắt ở phân khúc chất lượng cao. Nhà nước cần chú trọng thông tin, truyền thông để tạo niềm tin và sự ủng hộ của người tiêu dùng với gạo Việt cũng như thông tin để người sản xuất nắm được nhu cầu thay đổi của thị trường và cố gắng đáp ứng.
4. An toàn thực phẩm là vấn đề quan trọng, tác động lớn đến đời sống xã hội, được QH và cử tri đặc biệt quan tâm. Báo Đại biểu Nhân dân xin trân trọng giới thiệu bài viết của Phó Chủ tịch QH Phùng Quốc Hiển, Trưởng đoàn Giám sát của QH về An toàn thực phẩm xung quanh vấn đề nóng bỏng này.  An toàn thực phẩm quyết định sự phát triển bền vững của đất nước (báo Người đại biểu nhân dân 17/3).
Sau khi Luật An toàn thực phẩm (ATTP) và một số luật có liên quan như Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng… được QH thông qua, đã có những bước tiến rất tích cực trong việc thực thi các quy định của pháp luật về bảo đảm ATTP. Tuy nhiên, ATTP vẫn luôn là vấn đề “nóng” trên diễn đàn QH, được nhiều đại biểu và cử tri quan tâm.
Có ý kiến cho rằng nên đánh giá tình hình ATTP như thế nào cho đúng mực. Nếu chỉ dựa trên những tiêu chí khá tích cực của nền kinh tế như kim ngạch nông sản hàng hóa xuất khẩu của nước ta đã đạt trên 32 tỷ USD mỗi năm, tiếp cận được một số thị trường “khó tính”; thu nhập, đời sống, tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên, thì có thể nói tình hình ATTP đã có chuyển biến khá tích cực. Ngược lại, nếu nhìn vào số vụ việc mất ATTP đã xảy ra hay số lô hàng xuất khẩu bị từ chối, gửi trả lại hoặc buộc tiêu hủy tại cảng đến thì đánh giá thế nào? Hoặc đặt vấn đề là trong điều kiện phát triển của đất nước hiện nay, yêu cầu đối với ATTP như thế nào là phù hợp với nhu cầu tâm sinh lý, truyền thống, lịch sử, văn hóa? Tóm lại, ATTP gắn liền với sự phát triển của đất nước. Cho nên, cần nhìn nhận ATTP, các yếu tố tác động đến ATTP và xu thế diễn biến của ATTP như thế nào là những vấn đề mà đoàn giám sát của QH cần làm rõ.
Qua giám sát, kiểm tra thực tế theo kế hoạch và đột xuất, đoàn giám sát của QH khẳng định, từ khi có Luật ATTP và các luật có liên quan, các nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thông tư của các bộ, ngành quy định chi tiết việc thi hành luật, thì ATTP đã có những bước tiến bộ khá rõ nét; chất lượng hàng hóa ngày được nâng lên; công tác quản lý nhà nước về ATTP được chú trọng bảo đảm; ý thức người dân được tăng lên; trách nhiệm của chính quyền các cấp có sự thay đổi tích cực.
Tuy nhiên, đoàn giám sát cũng khẳng định rằng, so với yêu cầu đặt ra đối với công tác ATTP thì lẽ ra, với tình hình và điều kiện cụ thể của Việt Nam, chúng ta có thể làm tốt công tác ATTP hơn nữa, bảo đảm chất lượng cuộc sống của người dân được tốt hơn và nhất là có thể ngăn chặn được những vi phạm rất nghiêm trọng, nguy hại tới sức khỏe và mạng sống của người dân. Nếu chúng ta tổ chức tốt hơn công tác bảo đảm ATTP thì có thể chúng ta đã không phải chứng kiến những vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, những vụ ngộ độc gây chết người thương tâm xảy ra.
Một trong những giải pháp cho vấn đề ATTP là cần phải sửa đổi, bổ sung một số luật có liên quan đến ATTP. Phải có quy định về xử lý hình sự đối với các vi phạm nghiêm trọng đã bị xử lý nhiều lần vẫn tái phạm, quy trách nhiệm đối với người có trách nhiệm khi thấy vi phạm mà bỏ qua, không xử lý. Trong tổ chức thực hiện thì phải làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền các cấp, cơ quan chức năng, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến ATTP. Bên cạnh đó phải tiếp tục tổ chức lại sản xuất, từ khâu sản xuất đến tiêu dùng. Tăng cường tuyên truyền, khuyến khích người dân, báo chí phát hiện, phản ánh những vi phạm về ATTP. Có chế độ khen thưởng thích đáng cho những hành động đấu tranh chống vi phạm ATTP. Có thể thực hiện việc trích thưởng từ tiền phạt hành chính về vi phạm ATTP và sử dụng một phần tiền phạt để mua sắm trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện đấu tranh với hành vi vi phạm ATTP.
ATTP là mục tiêu lớn bảo đảm sức khỏe cho giống nòi, cho uy tín của sản phẩm Việt Nam trên thị trường, là mục tiêu lâu dài và cao cả vì sự phát triển bền vững của đất nước trên các phương diện kinh tế, xã hội và uy tín quốc tế. Thực hiện giám sát tối cao về ATTP của QH chính là cách mà QH thực hiện trách nhiệm chính trị về vấn đề này, là tiếng chuông về trách nhiệm chính trị và pháp lý đối với những cơ quan và cá nhân có liên quan đến với ATTP. Từ thực tiễn kinh nghiệm của một số địa phương đã vào cuộc quyết liệt như TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, nên chăng đoàn giám sát cần kiến nghị thành lập một ủy ban quốc gia về ATTP. Các thành phố lớn, các địa phương trọng điểm tập trung dân cư cần có ban chỉ đạo về ATTP để có thể phối hợp tốt hơn, nâng cao trách nhiệm và tổ chức quản lý ATTP, khắc phục được các yếu kém như hiện nay.
 
 
MTC


Xem tin theo ngày: 
ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH