< Trở về giao diện Mobile

Điểm báo tuần từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 21 tháng 3 năm 2017

VẤN ĐỀ NỔI BẬT
1. Thời gian qua, chúng ta đã có nhiều giải pháp hiệu quả ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc, giữ vững trận địa tư tưởng, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Tuy nhiên, gần đây, thông tin xấu độc tiếp tục có xu hướng diễn biến phức tạp, cần được tiếp tục nhận diện và đấu tranh kịp thời, hiệu quả để tạo ra sức đề kháng, “hệ miễn dịch” trước những loại thông tin đó.   Chống diễn biến hòa bình: Cần "miễn dịch" trước thông tin xấu độc (báo Quân đội nhân dân 23/3).
Những ngày gần đây, trên một số trang mạng phản động gia tăng các bài viết thông tin lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta “dính nhiều sai phạm”, “bảo kê” cho Công ty Formosa tàn phá môi trường. Núp dưới danh nghĩa “cung cấp thông tin cho Đảng trong triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII”, chúng cũng đơm đặt nhiều thông tin liên quan tới việc xử lý sai phạm của Trịnh Xuân Thanh vì biết việc xử lý này đang được toàn Đảng, toàn dân quan tâm, ủng hộ. Chúng đưa ra những “tâm thư” mang tên Trịnh Xuân Thanh để bịa đặt rằng các đồng chí Tổng Bí thư, nguyên Tổng Bí thư, Thủ tướng Chính phủ, nguyên Thủ tướng Chính phủ... “bảo kê” cho Formosa.
Bùi Thanh Hiếu, biệt danh “Người Buôn Gió” trên mạng xã hội-một đối tượng lưu manh phản động ở nước ngoài-từ năm 2016 đến nay liên tục tung ra nhiều thông tin bịa đặt, gán ghép với vụ việc Trịnh Xuân Thanh để nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Mới đây, chúng tung đơn của một người ghi tên là Bùi Xuân Minh “cán bộ Bộ Công Thương nghỉ hưu” tố cáo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo cho Formosa thuê đất sai pháp luật, dù thực tế không có người nào như vậy. Chúng cũng bịa đặt Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã giới thiệu Công ty TNHH du lịch Sơn Lâm là “công ty sân sau” làm dự án nhạc nước ở Hải Phòng gây lãng phí hàng trăm tỷ đồng...
Đáng tiếc là trước những thông tin bịa đặt, xấu độc như trên, có một số người, trong đó có cả cán bộ, đảng viên đã suy nghĩ giản đơn, sử dụng chính những thông tin đó để chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội hoặc tán phát thông tin trong cộng đồng kiểu “câu chuyện làm quà”, gây dư luận xã hội không đúng về lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Thông tin từ cơ quan chức năng cho biết, thời gian qua, đã xuất hiện một số trường hợp cán bộ, đảng viên dùng mạng xã hội và thông tin di động tán phát thông tin xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín lãnh đạo, gây chia rẽ nội bộ. Trong đó, có người đến mức bị xử lý hình sự. Có người từ chỗ viết bài, đăng tải thông tin phản biện xã hội đã bị kẻ xấu lôi kéo, kích động trở thành đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước theo kiểu “hóa mù ra mưa”. Những trường hợp này biểu hiện vi phạm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã rất rõ ràng.
Nắm bắt được tâm lý đó, thời gian qua, các đối tượng xấu đã liên tiếp cho ra lò những trang tin mạo danh lãnh đạo, mạo danh “báo chí độc lập”, “truyền thông lề dân” để tán phát thông tin xấu. Dù đã nhiều lần bị các cơ quan chức năng cảnh báo, ngăn chặn nhưng không ít người vẫn tò mò đọc thông tin. Ngày 19-2-2017 vừa qua, kẻ xấu tung lên mạng xã hội clip “Formosa lại xả thải”, sau đó qua xác minh cho thấy chỉ là clip giả, quay trước đó tại cảng Tiên Sa, Đà Nẵng và chỉ là nước bùn đất rửa xe thông thường nhưng có người đã vội tin theo, chia sẻ trên mạng gây hoang mang dư luận, trong đó có ý kiến vội quay ra đổ lỗi cho chính quyền tiếp tục buông lỏng quản lý. Sự việc trên thêm một lần cảnh báo tác hại của thông tin bịa đặt và sự cần thiết phải bình tĩnh, tỉnh táo khi tiếp cận thông tin từ mạng xã hội.
Trở lại với sự việc các trang mạng cung cấp thông tin bịa đặt về lãnh đạo Đảng, Nhà nước để “hưởng ứng Nghị quyết Trung ương 4”, qua tìm hiểu xác minh cho thấy những trang mạng trên có những ý đồ hết sức thâm hiểm. Không phải ngẫu nhiên mà chúng tung ra nhiều thông tin liên quan đến các đồng chí Tổng Bí thư, nguyên Tổng Bí thư, Thủ tướng, nguyên Thủ tướng “bảo kê” cho Formosa. Những thông tin này được tung ra có chủ ý ngay sau thời điểm Ủy ban Kiểm tra Trung ương vừa công bố kết luận xử lý một số cán bộ liên quan đến vụ việc Formosa và trong bối cảnh Đảng ta đang quyết liệt triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.
Thực tế, thông tin chúng tán phát trên là bịa đặt, vu cáo. Chẳng hạn với thông tin Trịnh Xuân Thanh tố cáo lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chúng nhiều lần úp mở rằng “sẽ công bố bằng chứng” bảo kê cho Formosa nhưng hơn 1 năm qua, chúng vẫn không thể đưa ra được một chứng cứ nào. Còn với cái gọi là “Đơn tố cáo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc” mà chúng tán phát mấy ngày gần đây, thực chất cũng chỉ là những thông tin không có cơ sở, nhào nặn, cắt ghép, suy diễn lung lung mang tính vu cáo như những lần trước chúng mạo danh “cán bộ Văn phòng Chính phủ” để  tán phát sai sự thật về đồng chí Nguyễn Xuân Phúc. Như thông tin liên quan đến dự án nhạc nước và Công ty Sơn Lâm do “Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giới thiệu”, “là công ty sân sau”, theo nguồn tin cơ quan chức năng cho biết cũng là sự bịa đặt trắng trợn. Trên thực tế, những sai phạm của dự án nhạc nước đã được làm rõ và xử lý với việc nhiều cán bộ bị kỷ luật, công trình bị tháo dỡ, không liên quan đến Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc.
Thực tế đó cho thấy, nếu như không bình tĩnh, cảnh giác trong xử lý thông tin, rất có thể sẽ mắc bẫy, tiếp tay cho những thủ đoạn chống phá, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ những “liều phóng” thông tin bịa đặt, chúng chủ ý khiến cho cán bộ, đảng viên và nhân dân mắc bẫy thông tin, từ đó suy luận, đồn đoán, nghi ngờ, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Cao hơn thế, từ thông tin, đơn thư bịa đặt có thể gây ra mâu thuẫn nội bộ.    
Đảng, Nhà nước ta đã có các quy định nghiêm ngặt của pháp luật đối với việc xử lý đơn thư nặc danh cũng như hành vi tung tin sai sự thật, xúc phạm uy tín, danh dự của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, để làm thất bại những âm mưu phá hoại bằng thông tin xấu độc và góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cũng như các cấp bộ Đảng và đoàn thể cần có quan điểm vững vàng, kỹ năng tiếp nhận, xử lý thông tin một cách khoa học trong thời đại bùng nổ thông tin; kiên định, tỉnh táo, không chia sẻ, bình luận những loại thông tin xấu độc, xây dựng cho được “hệ miễn dịch” trước thông tin xấu độc. Đồng thời, cần chủ động hơn trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi loại thông tin này, như giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra: “Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, tán phát tài liệu sai trái...”.
2. Để góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, một trong những điểm mới được Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nêu ra là: “Quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Tăng cường sự giám sát của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng (báo Quân đội nhân dân 21/3).
Việc tăng cường sự giám sát của nhân dân trong tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được Đảng ta nhiều lần đề cập trong văn kiện các Đại hội. Điều lệ Đảng từ khóa VIII đến khóa XI (Đại hội XII không bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng) đều nhất quán khẳng định: Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Thực tiễn lịch sử 87 năm xây dựng Đảng ta đã chứng minh, sức mạnh của Đảng trước hết bắt nguồn từ sức mạnh vô địch của nhân dân, vì nhân dân không chỉ là người nuôi dưỡng, chở che, đùm bọc, bảo vệ Đảng, mà còn tiếp thêm nguồn “sinh khí” cho Đảng phát triển, trưởng thành. Không có nhân dân thì không có Đảng, bởi nhân dân không những là chủ thể trực tiếp thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, mà còn là nơi để Đảng thể hiện được vị thế, vai trò và sứ mệnh cầm quyền của mình đối với xã hội. Việc dựa vào nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân còn là một nguyên tắc, một quy luật trong công tác xây dựng Đảng.
Trong những năm qua, phần lớn cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên thường xuyên gắn bó với nhân dân, có tác phong sâu sát cơ sở, tích cực tiếp xúc, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và kịp thời giải quyết những vướng mắc, băn khoăn, trăn trở của người dân. Đặc biệt, sau khi có Quy định số 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) “Về việc đảng viên đang công tác ở cơ quan, doanh nghiệp thường xuyên giữ vững mối quan hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ nơi cư trú”, mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với các tầng lớp nhân dân đã được củng cố, tăng cường. Những năm gần đây, chế độ tiếp xúc với nhân dân của cán bộ lãnh đạo các cấp được duy trì thường xuyên, nghiêm túc, thực chất và hiệu quả hơn. Nhiều bí thư cấp ủy, người đứng đầu chính quyền các cấp ở địa phương đã chủ động sắp xếp thời gian đi xuống cơ sở, trực tiếp gặp gỡ, lắng nghe ý kiến và đối thoại với người dân, góp phần giải quyết những bức xúc liên quan đến người dân, qua đó phòng ngừa được những “điểm nóng” phát sinh từ cơ sở.
Tuy nhiên, một số cấp ủy, tổ chức đảng và một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn có biểu hiện quan liêu, thiếu sâu sát cơ sở, ít lắng nghe dân, thậm chí sống xa dân, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm với dân, không quan tâm đến những nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân. Mặt khác, như văn kiện Đại hội XII đã chỉ ra, nhiều nơi chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát dẫn đến nhiều khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, đảng viên chậm được phát hiện, xử lý và chưa góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ Đảng.  
Để phát huy vai trò, trách nhiệm và tăng cường sự giám sát của nhân dân trong tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, nhất là Nghị quyết số 04-NQ/TW (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Một là: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc về tầm quan trọng của sự giám sát của nhân dân đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cần hiểu rằng, nhân dân không chỉ là người thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, mà còn là một trong những nhân tố quan trọng để giúp Đảng tự nhìn nhận những ưu điểm, khuyết điểm của mình, từ đó giúp Đảng “tự soi”, “tự sửa”, tự hoàn thiện mình để ngày càng xứng đáng với vai trò là “người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” như Bác Hồ căn dặn.
Hai là: Tiếp tục phát huy vai trò, sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp, thành phần, lực lượng trong xã hội tích cực tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội như: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Trong đó, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp cần nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 217-QĐ/TW về quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Ba là: Các cấp, các ngành, các cơ quan, đoàn thể, đơn vị cần thực hiện nghiêm Quy chế dân chủ ở cơ sở và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân phải bằng và thông qua những cơ chế, chính sách, việc làm thiết thực, cụ thể và có hiệu lực trong thực tế. Công khai hóa, minh bạch hóa mọi việc liên quan đến đời sống, sinh kế và những nhu cầu thiết thân, quyền lợi chính đáng của nhân dân. Thực hiện tốt cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” để đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được tiếp cận các dịch vụ công, kiên quyết phát hiện, xử lý những cán bộ, công chức gây phiền hà, nhiễu nhương với người dân.
Bốn là: Duy trì thường xuyên mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân thông qua việc tăng cường chế độ tiếp xúc và đối thoại giữa cán bộ lãnh đạo với người dân. Theo đó, bí thư cấp ủy và người đứng đầu các cấp phải thực hiện nghiêm túc chế độ tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để lắng nghe ý kiến phản ảnh, tiếp nhận thông tin, đối thoại trực tiếp và kịp thời xử lý những vấn đề phản ảnh, kiến nghị của nhân dân, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến sinh kế và những bức xúc của dân. Chỉ có gần dân, lắng nghe dân, cán bộ, đảng viên mới có điều kiện tìm hiểu, nắm bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của dân và mới có cơ sở để đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của nhân dân, từ đó có biện pháp giải quyết phù hợp, hiệu quả.
Năm là: Sớm nghiên cứu, hoàn thiện và thực hiện bộ công cụ lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với các cơ quan công quyền, nhất là các cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp. Quy định này sẽ là cơ sở quan trọng để nhận diện, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, cán bộ, công chức, đồng thời là một trong những giải pháp hữu hiệu để góp phần gắn kết, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. Vì chỉ số hài lòng của nhân dân là “thước đo” của lòng dân đối với Đảng, khi chỉ số hài lòng của nhân dân cao, chứng tỏ tổ chức đảng, chính quyền đã gắn bó mật thiết với nhân dân; ngược lại, chỉ số hài lòng của nhân dân thấp, chứng tỏ mối quan hệ giữa tổ chức đảng, chính quyền với nhân dân "có vấn đề”. Cũng thông qua bộ công cụ đánh giá này sẽ nhận diện, phát hiện, xử lý những tổ chức, cá nhân có chỉ số hài lòng thấp đối với nhân dân.
Bài học thực tiễn cho thấy, việc tăng cường sự giám sát của nhân dân, thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ góp phần làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ngày càng sâu sắc, bền chặt hơn; tinh thần cống hiến, hy sinh vì dân, vì nước của đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng từ đó được củng cố, tăng cường; và do vậy, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ cũng được nâng cao.
3. Điểm mới của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) là Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời “có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp mới, phức tạp hơn”. Làm thế nào để nhận diện đúng, trúng cá nhân chủ nghĩa của từng người, từng cương vị công tác, từng trình độ ở không gian và thời gian khác nhau? Nhận diện cá nhân chủ nghĩa (báo Hà Nội mới 21/3).
Sẽ có những biểu hiện cá nhân chủ nghĩa giống nhau và khác nhau của đảng viên, đảng viên có chức vụ, đảng viên là lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu các cấp, cán bộ cao cấp. Nhiều khi cái tinh vi, cái phức tạp mới nảy sinh lại nằm ở chính bộ phận này, vì như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) "về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" chỉ rõ: “tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”. Đây cũng là điều đã được Bác Hồ cảnh báo từ lâu: “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”[1]. Người chỉ ra cái gốc rễ ở đây là “khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác, mà biến thành người có tội với cách mạng”. Phải có một bản lĩnh, quyết tâm chính trị cao, thái độ nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật về đội ngũ cán bộ, đảng viên có chức vụ, nếu không sẽ rất khó đưa ra những phương thuốc chữa trị hiệu nghiệm.
Nói về biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, hình thái và sự phát triển của nó, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từng cho rằng, người bị chủ nghĩa cá nhân chi phối sẽ dễ nhìn lệch vấn đề, bộc lộ ra “mỗi cái một tí”, như thấy tác dụng cá nhân mình tăng lên một tí, thấy tác dụng của quần chúng nhân dân giảm đi một tí; thấy công lao của mình tăng lên một tí, thấy công lao của Đảng giảm đi một tí; đối với mình thì cộng một ít thành tích, đối với người khác thì lại cộng thêm cho họ một ít sai lầm, khuyết điểm; trong công tác cách mạng thường nhấn mạnh khó khăn của mình lên một tí, coi nhẹ khó khăn của người khác hay của Đảng đi một tí; nhẹ một tí phần cống hiến của mình cho cách mạng, nặng một tí phần đòi hỏi Đảng phải đãi ngộ mình; thấy hoài bão của mình về chủ nghĩa cộng sản bớt đi một tí, mà lo lắng cho tiền đồ cá nhân mình tăng lên một tí...
Những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân dù chỉ “mỗi cái một tí” theo kiểu cộng (+) thêm và trừ (-) bớt và “căn bản nó còn ở trong thời kỳ tự phát” như Đại tướng Nguyễn Chí Thanh chỉ ra, nhưng rất nguy hiểm. Do chủ nghĩa cá nhân chi phối dù chỉ là “mỗi cái một tí”, nhưng “người ta sẽ xuyên tạc sự thật, điều chỉnh sự vật một cách giả tạo theo hướng có lợi cho cá nhân mình, và lẽ cố nhiên là có hại và gây khó khăn cho cách mạng”. Dù trong thời kỳ tự phát nhưng chủ nghĩa cá nhân đã phát sinh tác dụng đục khoét, làm băng hoại nhân cách của người cách mạng và dẫn tới xói mòn, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ...
Hiện nay, “mỗi cái một tí” vẫn còn, nhưng “một tí” của thời kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế; của đầu tư nước ngoài, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước không hoàn toàn giống “một tí” thời chiến tranh giải phóng. Mặt khác, nếu trước đây khó phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa tập thể do chủ nghĩa cá nhân còn ở trình độ tự phát, thì nay cái khó phân biệt là do sự tinh vi, khôn ngoan của một bộ phận cán bộ có chức quyền.
Có thể dẫn ra hàng loạt biểu hiện tinh vi của những người có động cơ cá nhân chủ nghĩa. Đó là dựa vào thế lực của Đảng, núp dưới danh nghĩa tập thể để thực hiện mục đích riêng của mình. Miệng thì nói tập trung dân chủ nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ, độc đoán chuyên quyền. Trên diễn đàn, nghị trường phát biểu rất cách mạng, tỏ rõ tinh thần phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên định lập trường nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ.
Để chống chủ nghĩa cá nhân với những biểu hiện tinh vi như vậy cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp. Các nhóm giải pháp đề ra trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) là đúng đắn và cần thiết. Nhưng phải thấy một thực tế rằng cá nhân chủ nghĩa không thể chấm dứt chỉ bằng tu dưỡng ý thức đạo đức; bằng giáo dục chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình. Nó phải bị đánh bại bởi cơ chế, tính khoa học của bộ máy, tính nghiêm minh của pháp luật và kỷ luật Đảng, sức mạnh của quần chúng, cơ bản nhất bởi nền dân chủ - dân chủ trong Đảng, trong xã hội, làm cho dân dám nói, dám phê bình Đảng, Chính phủ và cán bộ, đảng viên.
Tuy nhiên, phần tác động lại của tu dưỡng ý thức không phải thứ yếu. Cơ chế, bộ máy tốt mà con người hư hỏng, cố tình xuyên tạc nó thì không cơ chế, bộ máy nào phát huy nổi hiệu lực, thậm chí thành công cụ của cái xấu, cái ác. Vì vậy, đôi khi chúng ta phải chịu đau đớn trong việc kỷ luật cán bộ, kể cả cán bộ cao cấp, để cứu cả một chế độ, một dân tộc, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. Đó chính là biểu hiện của tinh thần, thái độ nhân văn cao cả nhất của chế độ chúng ta.
II. KINH TẾ PHÁT TRIỂN
1. Ngày 23/3, tại Hội nghị “Triển khai kế hoạch sản xuất ngành tôm năm 2017” tổ chức tại tỉnh Sóc Trăng, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cho biết do nhiều nguyên nhân, mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu tôm 10 tỷ USD vào năm 2025 là... không dễ. Không dễ đạt 10 tỉ USD tổng kim ngạch xuất khẩu tôm vào năm 2025  (báo Đại đoàn kết 24/3).
Một khó khăn đang hiện hữu, theo Thứ trưởng Vũ Văn Tám, là thời tiết đang diễn ra một cách thất thường, cực đoan tạo nên một trở ngại lớn cho ngành tôm. Nếu như thời điểm này năm 2016 đã xảy ra tình trạng hạn, mặn (độ mặn khoảng 27 phần ngàn thì hiện nay nhiều nơi chỉ khoảng 1 phần ngàn), cộng thêm xuất hiện mưa trái mùa, gây khó khăn cho việc thả nuôi tôm giống.
Thiệt hại tôm nuôi do yếu tố môi trường, thời tiết đang có xu hướng tăng mạnh, đặc biệt là diễn biến phức tạp của tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn (năm 2014 là 21.844ha đến năm 2016 là 42.823ha) đang tác động rất lớn đến nuôi tôm nước lợ.
Tình hình dịch hại trên tôm thời gian qua diễn biến khá phức tạp. Theo số liệu báo cáo của Cục Thú y, năm 2016 tổng diện tích tôm nuôi thiệt hại là 67.810ha, trong đó bệnh đốm trắng do vi rút (WSD) và bệnh hoại tủy gan tụy cấp (AHPND) là hai bệnh gây thiệt hại lớn đối với ngành nuôi tôm nước lợ.
Đại diện Cục Quản lí chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản cho biết: Tình trạng lạm dụng thuốc, hóa chất, bơm chích tạp chất vào tôm nguyên liệu vẫn còn xảy ra ở các cơ sở nuôi và chế biến tôm nhỏ lẻ, đang làm ảnh hưởng xấu đến uy tín sản phẩm tôm Việt.
Trước thực trạng trên, Thứ trưởng Vũ Văn Tám nhấn mạnh: Chúng ta phải tạo ra sản phẩm tôm đáp ứng với nhu cầu thị trường, tức là tuyên chiến với nạn tiêm chích tạp chất vào tôm và dư lượng kháng sinh.
Chuyển từ nuôi tôm có kháng sinh sang nuôi theo chế phẩm sinh học và các giải pháp khác có liên quan, để hướng đến ngành tôm thân thiện với môi trường sinh thái.
Một khó khăn khác của ngành tôm nữa là chưa hoàn toàn làm chủ công nghệ chọn tạo, gia hóa trong cung ứng giống. Bên cạnh đó, giá thành sản xuất tôm ở nước ta vẫn còn khá cao, do nguồn thức ăn nuôi tôm vẫn đang chiếm tỉ lệ cao trong giá thành sản xuất (khoảng 65% tôm công nghiệp), chi phí con giống cao do phải nhập khẩu...Trong khi đó, việc xuất khẩu tôm ở các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, châu Âu đang gặp khó khăn, do vấn đề kiểm soát 100% kháng sinh trên tôm, nhưng hiện nay việc kiểm soát chất lượng nguồn tôm nguyên liệu vẫn còn rất hạn chế. Về lâu dài, việc kiểm soát chất lượng nguồn tôm nguyên liệu là rất cấp bách.
Ngoài ra, ngành tôm Việt Nam vẫn đang đối diện với các khó khăn khác như: nền sản xuất manh mún, nhỏ lẻ chưa tạo thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung; công tác dự báo thị trường còn yếu kém nên rơi vào tình trạng bị động trong định hướng sản xuất; công tác quy hoạch, thực hiện quy hoạch, cơ chế chính sách thu hút đầu tư còn nhiều bất cập, hạn chế,...
Tại hội thảo, Thứ trưởng Vũ Văn Tám đề nghị các địa phương khẩn trương thực hiện 14 định hướng phát triển ngành tôm theo kết luận của Thủ tướng Chính phủ trong kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025.
2. Số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) vừa công bố cho thấy, trong quý I/2017, Việt Nam thu hút được 7,71 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), bao gồm cả vốn đăng ký mới, vốn tăng thêm và vốn góp mua cổ phần, tăng 77,6% so với cùng kỳ 2016. Thu hút FDI quý I/2017 tăng 77,6% so với cùng kỳ (báo Công thương 24/3).
Cụ thể, từ đầu năm đến nay, cả nước có 493 dự án FDI mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư, với tổng vốn đăng ký đạt 2,917 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ 2016. Cùng với đó, có 223 lượt dự án tăng vốn, với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 3,94 tỷ USD, tăng 206,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Đặc biệt, từ đầu năm đến nay có 1.077 lượt dự án được nhà đầu tư nước ngoài góp vốn mua cổ phần, với tổng giá trị vốn góp lên tới 852,86 triệu USD, tăng 171,5% so với cùng kỳ 2016.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng, có nhiều nguyên nhân khiến Việt Nam hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó, chủ yếu vẫn là do Việt Nam có những lợi thế về lao động giá rẻ, thị trường tiêu thụ rộng lớn và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng. Bên cạnh đó, môi trường đầu tư tại Việt Nam cũng được đánh giá đang cải thiện mạnh mẽ, theo hướng công bằng, minh bạch cho tất cả các doanh nghiệp tham gia thị trường.
Lĩnh vực hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nhất trong 3 tháng đầu năm là công nghiệp chế biến, chế tạo, với tổng vốn đăng ký đạt 6,54 tỷ USD, chiếm 84,9% tổng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam trong quý I/2017. Bất động sản là lĩnh vực đứng thứ 2 với 343,69 triệu USD, chiếm 4,4% tổng vốn đầu tư và bán buôn. Bán lẻ đứng thứ 3 với 296,8 triệu USD, chiếm 3,85% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 3 tháng đầu năm.
Hàn Quốc vẫn là quốc gia dẫn đầu trong tổng số 71 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam từ đầu năm đến nay. Theo đó, các nhà đầu tư Hàn Quốc đã đầu tư vào Việt Nam 3,74 tỷ USD, chiếm 48,61% tổng vốn đầu tư; Singapore đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký là 910,8 triệu USD, chiếm 11,81% tổng vốn đầu tư; Trung Quốc đứng thứ 3 với tổng vốn đăng ký đạt 823 triệu USD, chiếm 10,68% tổng vốn đầu tư.
Địa phương thu hút FDI mạnh nhất trong 3 tháng đầu năm là tỉnh Bắc Ninh, với tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm là 2,61 tỷ USD, chiếm 33,86% tổng vốn đầu tư; Bình Dương đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký là 1,39 tỷ USD, chiếm 18,04% và TP. Hồ Chí Minh đứng thứ 3 với gần 600 triệu USD, chiếm 7,78% tổng vốn đầu tư.
3. Một khoản ngoại tệ bỏ ra không nhỏ để chi cho việc NK rau quả có tính chất tương đồng với rau quả của Việt Nam là dấu hiệu không bình thường. Điều này nếu không được ngăn chặn sẽ làm cho nhập siêu càng gia tăng. Nghịch lý nhập khẩu rau quả (báo Hải quan 23/3).
Mấy năm trở lại đây, XK rau quả của Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ đạt kim ngạch 2 tỷ USD trong năm 2016. Điều đó cho thấy, Việt Nam đang tập trung vào thế mạnh và tận dụng lợi thế so sánh của mình- là nước nông nghiệp nhiệt đới. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, Việt Nam vẫn đang NK một lượng rau quả khá lớn từ các nước, trong đó nhiều nhất là từ Thái Lan, Trung Quốc. Con số này cũng là điều đáng suy ngẫm.
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 2 tháng đầu năm 2017, NK rau quả vào Việt Nam đạt trên 164 triệu USD, tăng gần 54% so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ riêng tháng 2, Việt Nam đã chi gần 67,1 triệu USD để NK rau quả, giảm 31% so với tháng đầu năm.
Xét theo yếu tố thị trường, NK rau quả từ Thái Lan trong 2 tháng đầu năm nay tăng mạnh 101,6% so với cùng kỳ, lên đến 82,6 triệu USD, chiếm hơn 50% giá trị NK rau quả cả nước; nhập từ Trung Quốc tăng 20% đạt 31,6 triệu USD, chiếm hơn 19%. Tiếp theo là Mỹ 13,2 triệu USD (tăng 9%); Myanmar gần 7,8 triệu USD (tăng 134%); Chi Lê, Nam Phi 5,3 triệu USD (tăng 72,6%); New Zealand 3,8 triệu USD (tăng 46%). Chỉ tính riêng 2 thị trường Trung Quốc và Thái Lan đã chiếm 70% kim ngạch NK rau quả của Việt Nam. Như vậy, mỗi ngày Việt Nam chi khoảng 2 triệu USD (tương đương 44,5 tỷ đồng) nhập rau củ quả từ 2 thị trường trên.
Theo lí giải của Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công Thương), kim ngạch NK rau quả 2 tháng đầu năm nay tăng cao là do NK từ phần lớn các thị trường đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó nhập từ Brazil tăng mạnh nhất 188% so với cùng kỳ; bên cạnh đó nhập từ Ấn Độ cũng tăng 149%, từ Myanmar tăng 134%, từ Thái Lan tăng 102% so cùng kỳ. Các mặt hàng rau củ quả được nhập về trong 2 tháng đầu năm chủ yếu là táo, cam, lê, kiwi, cherry (New Zealand, Australia), xoài, mãng cầu, me (Thái Lan). Rau củ quả xuất xứ từ Trung Quốc chủ yếu là bắp cải, xà lách, khoai tây, cam, táo...
Bổ sung thêm thông tin và để trả lời cho câu hỏi “Vì sao Việt Nam có lợi thế về rau quả nhưng vẫn đi NK?”, ông Lê Quốc Phương, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại cho hay, trong thương mại, vấn đề XK, NK cùng một mặt hàng tương tự của một quốc gia là chuyện hết sức bình thường. Rau quả cũng vậy, có xuất thì có nhập! Mặt khác, Việt Nam vẫn phải NK những mặt hàng trong nước không sản xuất được hoặc NK theo thời điểm những sản phẩm dù sản xuất trong nước có sản xuất được nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu, ví dụ như dịp lễ, tết. Thêm vào đó, rau quả NK có giá rẻ hơn trong nước, ví dụ như của Trung Quốc, nên Việt Nam vẫn NK. Tâm lí sính ngoại của một bộ phận không ít người tiêu dùng cũng là nguyên nhân khiến Việt Nam vẫn có xu hướng NK rau quả.
Với những lập luận trên, theo ông Phương, nên coi việc nhập rau quả là chuyện bình thường. Nhưng câu chuyện sẽ là không bình thường nếu NK nhiều mặt hàng mình hoàn toàn sản xuất được và cơ quan quản lí phải quan tâm. Một trong những mặt hàng đó là rau củ quả từ Trung Quốc, Thái Lan và một số nước châu Đại Dương.
Bình luận về vấn đề này, ông Vũ Vinh Phú, Chủ tịch Hội siêu thị Hà Nội nêu ý kiến, đối với các mặt hàng Việt Nam không có như cherry thì phải chấp nhận NK. Tuy nhiên, nếu mặt hàng NK trùng lặp với Việt Nam như nhãn, xoài, sầu riêng, thanh long thì cho thấy năng lực cạnh tranh sản phẩm Việt Nam còn yếu ngay ở thị trường nội địa do sản xuất manh mún, nhỏ lẻ,…
Trên thực tế, 70% rau quả của Việt Nam là XK sang Trung Quốc, chỉ có một số rất ít (vải, thanh long, nhãn, xoài...) đáp ứng được yêu cầu khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm của các nước NK như Australia, Mỹ... Song rau quả XK sang Trung Quốc phần lớn là không có kiểm dịch nên có thể hàng XK được nhưng lại chưa chắc bán được ở trong nước, hoặc bán với giá rẻ. Trong khi đó, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm đối với rau quả hiện đang là mối quan tâm lớn của rất nhiều người tiêu dùng Việt Nam. Ông Phương cho rằng, sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam dùng đến 90% là phân vô cơ, chỉ 10% sử dụng phân hữu cơ, trong khi ở các nước thì ngược lại nên nền nông nghiệp của chúng ta là “bẩn”, người tiêu dùng không yên tâm sử dụng.
Do vậy, việc quản lí NK rau quả, nhất là từ Thái Lan, Trung Quốc không thể dùng biện pháp hạn chế NK bằng cách cấm mà phải quản lí chặt chẽ chất lượng rau quả NK. Điều quan trọng hơn thế, cần phải nâng cao chất lượng sản xuất trong nước, DN sản xuất phải cải thiện mẫu mã, đầu tư, nâng cao năng suất để “kéo” người tiêu dùng trở về với hàng Việt. Bởi lẽ, bài toán cạnh tranh với hàng ngoại không chỉ còn nằm ở vấn đề giá cả mà còn phụ thuộc vào chất lượng, phục vụ, hậu mãi.
III. VĂN HÓA XÃ HỘI
1. Đầu tư nông nghiệp không đơn giản, vừa cần một nguồn vốn lớn, mặt bằng đất đai rộng, yêu cầu về các tiêu chí để có thể sản xuất sạch cũng rất khắt khe. Trong khi đó, tỷ suất lợi nhuận thấp, tính rủi ro cao… Đó là lý do vì sao doanh nghiệp (DN), thương nhân không mấy mặn mà đầu tư vào nông nghiệp cũng như lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Đầu tư vào nông nghiệp: Rào cản cần tháo gỡ (báo Đại đoàn kết 28/3).
Với một nước có nền kinh tế nông nghiệp làm trụ đỡ, con số chưa đến 1% doanh nghiệp (trong tổng số trên 500 nghìn DN đang hoạt động trên cả nước) đầu tư vào nông nghiệp cho thấy, đây là lĩnh vực vẫn đang rất khó thu hút DN. Nhiều DN cho biết, đầu tư vào lĩnh vực này yêu cầu về vốn rất lớn song có vốn rồi chưa chắc đã làm được, bởi đi kèm là những rủi ro rình rập khiến DN có thể trắng tay.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Trang- Giám đốc bộ phận Marketing Công ty thực phẩm sạch ĐTK, đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao phải có sự chuẩn bị rất bài bản, công phu. Đặc biệt, đối với DN nào đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi buộc phải tuân thủ đầy đủ các tiêu chí về chăn nuôi sạch mới có thể làm được. Chẳng hạn, nếu đầu tư chăn nuôi lợn sạch, DN phải tìm được mặt bằng lớn, phải quan trắc và có khoảng cách an toàn sinh học, cách xa khu dân cư. Bên cạnh đó, bà Trang cho biết, đầu tư chăn nuôi sạch buộc phải tìm được nơi có nguồn nước ngầm tốt vì không thể sử dụng nước máy để chăn nuôi. Từ khâu chăm sóc, chăn nuôi, thức ăn đầu vào ở đâu cho đến khâu giết mổ đều phải là một quy trình khép kín.
Hay như đầu tư vào một nhà máy sản xuất trứng sạch, tất cả các quy trình từ chọn gà giống cho đến khâu thu gom trứng, đều phải tuân thủ các quy định để đảm bảo bằng được yếu tố sạch khuẩn. Các công nhân trước khi vào nhà máy đều phải qua khâu khử trùng, thay quần áo bảo hộ lao động đã được khử trùng rồi mới được vào trong khu chăn nuôi. Vì theo bà Trang, chỉ cần có một virus cúm xâm nhập là có thể hại đến cả đàn gà hàng ngàn con và mọi thứ coi như công cốc. Như vậy, DN phải đầu tư từ A-Z mới đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Mà muốn đầu tư cả một quy trình đó, thì số tiền DN bỏ ra không phải là nhỏ.
Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp lại chịu nhiều rủi ro lớn về thiên tai, dịch bệnh. Nếu chẳng may một lứa lợn, gà chuẩn bị xuất chuồng mà có đợt dịch, mặc dù sản phẩm chăn nuôi của công ty đó không bị mắc bệnh nhưng do tác động của đợt dịch đó, người tiêu dùng không ăn thịt lợn, thịt gà thì coi như đợt đó bị lỗ. Do đó, bà Trang cho rằng, kể cả khi DN đầu tư rất bài bản cho sản xuất nông nghiệp, nhưng những tác động ngoài ý muốn có thể dẫn đến nhiều nguy cơ và DN có thể thua lỗ. Đây cũng là một trong những lý do khiến cho các thương nhân, đặc biệt là những người có vốn nhỏ không dám thử sức mình vào lĩnh vực này.
Nói về những khó khăn khi đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, ông Trần Lệ- Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Hoa Anh Đào, một doanh nhân cũng đã thành công khi tham gia vào việc trồng hoa, trồng rau bằng các thiết bị công nghệ cao, cho biết, khó khăn lớn nhất của các DN khi muốn đầu tư vào nông nghiệp là mặt bằng kinh doanh và vốn.
Thời gian qua, mặc dù Chính phủ đã có những động thái khuyến khích DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, tuy nhiên, theo các DN, khó khăn về thủ tục tiếp cận đất đai vẫn là mối quan ngại lớn kìm chân họ đầu tư vào lĩnh vực này. Nhiều DN cho biết, thiếu vốn họ có thể xoay được nhưng riêng lĩnh vực nông nghiệp, kể cả có nguồn vốn dồi dào mà không có mặt bằng chăn nuôi, trồng trọt đủ lớn để làm trang trại, xây dựng nhà máy thì có cũng như không.
Theo số liệu điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có đến 80% DN tham gia lĩnh vực nông nghiệp cho rằng, cần phải có mối quan hệ  mới có thể tiếp cận được thông tin  về thuế,  quy hoạch, đất đai… Để tiếp cận được các thông tin, phần lớn các DN đều cho rằng, cần phải quan hệ tốt. Thậm chí, 68% DN nông nghiệp thường xuyên bị chi trả không chính thức. Điều này cho thấy, DN làm nông nghiệp muốn phát triển vẫn cần phải dựa vào “mối quan hệ tốt” và phải bỏ ra nhiều loại chi phí “ngoài luồng”. Như vậy, các rào cản về thủ tục hành chính vẫn chưa được cởi bỏ.   
2. 60% số học sinh tốt nghiệp THPT không vào đại học nhưng các trường nghề vẫn mỗi ngày một “teo tóp” vì không tuyển sinh được. Vậy, học sinh đi đâu?  Khan hiếm học viên, trường nghề “đua nhau” giải thể (báo điện tử Dân Việt 28/3).
Theo các chuyên gia giáo dục, với hàng loạt thay đổi trong xét tuyển vào đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) những năm gần đây đã khiến cánh cửa vào ĐH ngày càng rộng mở. Điều đó đồng nghĩa với việc các trường nghề càng “đuối” trong cuộc chạy đua giành thí sinh.
Theo Sở GDĐT Quảng Ninh, cả tỉnh có 23 cơ sở đào tạo trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) với quy mô hơn 7.000 học viên, tuy nhiên năm nay số lượng học viên tuyển sinh đã giảm rõ rệt. Lãnh đạo Sở này lo lắng, mục tiêu đến năm 2020 phải phân luồng được 30% học sinh tốt nghiệp THCS vào trường nghề sẽ... vỡ, vì hiện tỉnh này mới đạt 15% chỉ tiêu.
Tương tự, ông Phạm Văn Đại – Phó Giám đốc Sở GDĐT Hà Nội cũng thông tin, các trường TCCN của Hà Nội chỉ tuyển sinh được 50% số chỉ tiêu được giao, trong đó có tới trên 25% số trường không tuyển sinh được. Nhiều trường nghề vì không thể tuyển sinh được học viên đã phải giải thể, đóng cửa ngành học, như: Hệ TCCC của Trường CĐ miền Nam năm 2016 phải trả hồ sơ và học phí cho người xin xét tuyển vì chỉ nhận được 9 bộ hồ sơ suốt nhiều tháng liền chiêu sinh; Trường Trung cấp Kỹ thuật cơ khí giao thông trước đó cũng phải xin giải thể do nhiều năm liên tiếp không tuyển sinh được...
Theo các chuyên gia giáo dục, nghịch lý về sự phân luồng giáo dục chưa hợp lý là nguyên nhân của con số cử nhân thất nghiệp mỗi năm một lớn trong khi nhiều nghề lại thiếu lao động.
Trả lời câu hỏi: “Không vào ĐH hay học nghề, vậy học sinh đi đâu?”, ông Nguyễn Quốc Cường - Phó ban Đào tạo Hội giáo dục nghề nghiệp TP.HCM nhận định: “Với cơ chế hiện nay, các trường nghề phải tự bơi khi chưa có sự nhất quán chung, phụ huynh và xã hội sẽ không có được sự tin tưởng. Không tin tưởng thì rất khó chọn học nghề. Do đó, không ít bạn trẻ tìm con đường du học hoặc kinh doanh, đi làm công nhân chứ không học nghề”.
Ông Cường phân tích, có một “nút thắt” trong tuyển sinh khiến cho chính thí sinh và các trường nghề không thể chủ động được đó là hồ sơ đăng ký dự thi THPT quốc gia của Bộ GDĐT cấp cho thí sinh không có phần đăng ký nguyện vọng vào các trường CĐ và trung cấp nghề. Điều này bắt buộc thí sinh phải trượt ĐH mới có thể làm bước thứ hai là đăng ký học nghề nếu muốn. Một nguyên nhân khác là tâm lý chuộng bằng cấp, dù đã được tuyên truyền, định hướng nghề nghiệp nhưng vẫn còn tồn tại trong các gia đình. Các bậc phụ huynh vẫn muốn con mình học ĐH.
Còn theo ông Cao Văn Sâm – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐTBXH), trong tương lai và lâu dài, trường nghề muốn bứt phá thì phải đổi mới. “Lao động Việt Nam không chỉ cạnh tranh với lao động trong nước mà còn phải cạnh tranh với cả lao động khu vực và quốc tế, đặc biệt cạnh tranh với robot. Vì vậy, ngoài việc nâng cao chất lượng tuyển sinh, việc đổi mới chất lượng dạy nghề cũng rất quan trọng và cần thiết” – ông Sâm lý giải.
Theo ông Sâm, giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng dạy nghề chính là thay đổi cách dạy từ truyền thống sang hiện đại. Muốn vậy cần kêu gọi, hỗ trợ để doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo. Từ đó hình thành kỹ năng thực tế cho học sinh, giúp các em vừa học vừa hành.
Ông Cường cũng đề xuất giải pháp, để trường nghề có thể sống và giúp học sinh xác định được khả năng nên chọn học nghề hay vào ĐH, khi Bộ GDĐT phát hành hồ sơ đăng ký dự thi, Bộ LĐTBXH cũng cần có động thái giúp học sinh hiểu rõ cơ chế xét tuyển và cơ hội khi vào các trường nghề.
“Đừng đợi đến khi các em thi trượt ĐH rồi mới gượng ép đi học nghề. Khi tâm lý miễn cưỡng như vậy, các em cũng không thể học nghề tốt được” – ông Cường nói.
3. “Bản chất của việc lấn chiếm vỉa hè là vi phạm pháp luật. Quy định rõ trong luật như vậy nhưng việc giành lại vỉa hè vẫn rất khó khăn là bởi, của công bị chiếm dụng thành của tư...”. Giành lại vỉa hè: Khó làm vì vai trò thổ công' bị đánh tráo (báo VietnamNet 24/3).
Chuyên gia Lương Hoài Nam phát biểu tại buổi tọa đàm trực tuyến “Vỉa hè - chống ùn tắc và trách nhiệm công dân". Ông Nam nói rõ, sở dĩ việc lập lại trật tự vỉa hè gặp khó khăn là do hành vi chiếm dụng của công thành của tư theo kiểu “đất có thổ công, sông có hà bá”.
Về pháp luật, “thổ công” ở đây chính là toàn dân vì đó là đất công. Tuy nhiên thực tế khi vỉa hè bị lấn chiếm, vai trò “thổ công” bị đánh tráo, toàn dân không phải thổ công nữa mà là ông khác. Việc này khiến "cuộc chiến" lập lại trật tự, kỷ cương vỉa hè rất khó khăn’, ông Nam nói.
TS Lương Hoài Nam cũng cho biết thêm, vỉa hè còn có nhiều công năng khác chứ không nhất thiết chỉ dành riêng cho người đi bộ. Ở nhiều nơi, trên vỉa hè còn có hoạt động thương mại dịch vụ, mô hình nhà hàng cà phê, sạp báo, quầy bán rau quả…
Đồng quan điểm, Giám đốc Sở GTVT Hà Nội Vũ Văn Viện cho rằng, vỉa hè vừa là giao thông động nhưng cũng vừa là giao thông tĩnh, do vậy chúng ta vẫn phải sử dụng một phần lòng đường vỉa hè cho mục đích giao thông tĩnh.
Ông Ngô Hải Đường - Trưởng phòng Quản lý khai thác hạ tầng giao thông đường bộ, Sở GTVT TP.HCM cho rằng, TP đã ban hành quyết định 74/2008 quy định cụ thể việc triển khai sử dụng lòng đường.
Quy định này đã đưa ra 6 trường hợp được phép sử dụng vỉa hè. Cụ thể: Sử dụng vỉa hè cho hoạt động tổ chức tiệc cưới, tang lễ; hoạt động trông giữ xe công cộng có thu phí; phục vụ thi công xây dựng để sửa chữa các công trình; buôn bán hàng hóa; hoạt động xã hội; để xe tự quản trước nhà…Tuy nhiên, mục tiêu quan trọng nhất của vỉa hè, ưu tiên nhất là dành cho người đi bộ.
Ông Khuất Việt Hùng - Phó Chủ tịch Ủy ban ATGT Quốc gia cho rằng, việc sử dụng vỉa hè cho mục đích phi giao thông đã được giao cho UBND các tỉnh, thành phố. Luật không có câu nào nói vỉa hè chỉ để đi bộ cả, chỉ có điều chức năng căn bản của nó là đi bộ phải được đáp ứng đầu tiên.
Ông Hùng cũng bày tỏ quan điểm, nên bố trí để xe phía ngoài hơn là để xe từ mép tường ra, vì để xe từ mép tường ra, người đi bộ sẽ bị vướng gốc cây. Khi nào xác định để xe ở ngoài, đi bộ ở trong một cách mạch lạc thì việc đập tam cấp của nhà dân mới có lý.
Ông Vũ Văn Viện cho hay, hiện nay Sở đang cùng Viện Chiến lược của Bộ Giao thông xây dựng đề án quản lý phương tiện nhằm giảm ùn tắc và ô nhiễm môi trường, trong đó có đưa ra các biện pháp cấp bách để giảm phương tiện cá nhân.
4. Hà Nội cũng như nhiều TP trong cả nước đang tiến hành lập lại trật tự vỉa hè. Tuy đã phần nào tạo được sự ngăn nắp, nhưng không thể không tính đến việc giữ gìn trật tự vỉa hè về lâu dài Cho thuê vỉa hè để kinh doanh: Giải pháp linh hoạt, thấu tình, đạt lý (báo Kinh tế và Đô thị 22/3).
Song song với đó là giải quyết đời sống dân sinh cho một bộ phận người dân lâu nay “bám” vỉa hè mưu sinh. Việc có nên áp dụng cho thuê vỉa hè để kinh doanh hay không vì thế được dư luận đặc biệt quan tâm. Nhiều chuyên gia nhận định đây là một giải pháp linh hoạt “thấu tình đạt lý” nhằm giải quyết triệt để nạn lấn chiếm vỉa hè, lòng đường ở các đô thị lớn.
 
 
MTC


Xem tin theo ngày: 
ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH