< Trở về giao diện Mobile

Điểm báo tuần từ ngày 08 tháng 8 đến ngày 14 tháng 8 năm 2017

VẤN ĐỀ NỔI BẬT
1. Chủ trương giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung để thực hiện chính sách xã hội hóa trong bảo vệ rừng; tạo động lực cho đồng bào sống được bằng rừng, gắn bó và bảo vệ rừng. Thế nhưng, hiện nay, giao đất, giao rừng chưa chuyển mạnh theo hướng xã hội hóa - Đây là một trong vấn đề Hội đồng Dân tộc sẽ triển khai giám sát chuyên đề. Chưa chuyển mạnh theo hướng xã hội hóa (Báo Người đại biểu nhân dân 14/8).
Báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 - 2016, đại diện Bộ NN - PTNT cho biết, tính đến 31.12.2016, đã có khoảng 78% (11.258.730ha) diện tích rừng của cả nước được giao. 22% còn lại (tương đương với trên 3.118.952ha) chưa được giao mà đang được quản lý bởi UBND cấp xã. Phần diện tích 11.258.730ha được giao cho 8 nhóm đối tượng sử dụng khác nhau, bao gồm Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban quản lý rừng phòng hộ, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp 100% vốn ngoài nhà nước, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng, đơn vị vũ trang, các tổ chức khác. Trong đó, Bộ NN - PTNT đã giao được 1.128.096ha rừng và đất lâm nghiệp cho cộng đồng.
Tuy nhiên, theo Giám đốc Trung tâm tư vấn quản lý bền vững tài nguyên và phát triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á (Cirum) Trần Thị Hòa, số liệu giao rừng và đất lâm nghiệp cho hộ gia đình của Bộ NN - PTNT chưa chính xác. Phải chăng Bộ đang nhầm lẫn giữa giao khoán rừng và khoán bảo vệ rừng? Bà Trần Thị Hòa cho biết, năm 2014, Bộ NN - PTNT thông báo đã giao được 524.000ha rừng và đất lâm nghiệp cho cộng đồng, năm 2016 con số đã lên đến hơn 1 triệu hecta là chưa hợp lý. Bởi lẽ, giai đoạn 2015 - 2016, việc giao đất và giao rừng ở các địa phương rất ít.
Theo Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Nguyễn Lâm Thành, diện tích giao đất và giao rừng cho cộng đồng ước tính trung bình mỗi hộ khoảng 2ha, như vậy giao đất, giao rừng rất ít, không tác động nhiều đến đời sống dân sinh. Đây là vấn đề Bộ NN - PTNT cần làm rõ. Đáng lưu ý, chúng ta không có chủ trương giao đất và rừng cho UBND xã, nhưng vì sao, vẫn còn 22% diện tích đất, rừng giao do UBND xã? Có trường hợp, UBND xã tự ý quy hoạch chuyển đổi diện tích rừng tự nhiên, rừng đầu nguồn sang rừng sản xuất. Vấn đề này Bộ có quản lý được không?
Giải trình thêm cho những vấn đề nêu trên, đại diện lãnh đạo Bộ NN - PTNT cho biết, rừng không được giao cho UBND xã, mà là theo Điều 2, Quyết định số 7/2012/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng thì UBND cấp xã quản lý diện tích, ranh giới các khu rừng; các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn. Tạm thời, vì 22% diện tích rừng này nằm ở vùng sâu, vùng xa, chưa giao được cho đối tượng nào, nên UBND xã tiếp nhận quản lý.
Theo Thường trực Hội đồng Dân tộc, chủ trương giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung để thực hiện chính sách xã hội hóa trong bảo vệ rừng. Đây là phương thức quản lý truyền thống nhằm tạo động lực cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi sống được bằng rừng, gắn bó và bảo vệ rừng. Nếu như giao cho một hộ, chỉ có một người kiểm tra, bảo vệ rừng, thì giao cho cộng đồng, có thể kiểm tra, kiểm soát được diện tích rừng lớn hơn. Thế nhưng, hiện trạng nêu trên cho thấy, rõ ràng giao đất, giao rừng của chúng ta chưa chuyển hóa mạnh theo hướng xã hội hóa.
Một vấn đề nữa phát sinh là, phải chăng, Bộ NN - PTNT còn buông lỏng quản lý nên việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình chưa đạt kết quả như mong muốn? Đơn cử, Bộ đã ban hành Quyết định 2740/QĐ/BNN - KL về phê duyệt Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2007 - 2010. Nhưng đến nay, mới có 22 tỉnh xây dựng xong Đề án và được phê duyệt, 9 tỉnh xây dựng xong Đề án, chưa được phê duyệt, 12 tỉnh chưa xây dựng Đề án, 20 tỉnh chưa xây dựng xong Đề án… Trách nhiệm của Bộ NN - PTNT trong chỉ đạo, kiểm tra, giám sát như thế nào. Và trách nhiệm của các địa phương trong vấn đề này ra sao?
Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Cao Thị Xuân cho biết thêm, sắp tới Hội đồng Dân tộc sẽ chia thành 4 Đoàn giám sát, làm việc thực tế ở các địa phương về kết quả thực thực hiện giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 - 2016. Qua giám sát sẽ chỉ rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương. Sự phối hợp giữa Bộ NN - PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở NN - PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường trong việc thực hiện giao đất, giao rừng như thế nào. Có vướng mắc gì trong cơ chế, chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng hay không?
Những vấn đề này sẽ sớm được làm sáng tỏ, nhằm đánh giá đúng, chính xác về hiệu quả giao đất, giao rừng.
2. Sau khi được đưa ra thảo luận, lấy ý kiến tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV, dự thảo Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) tiếp tục được Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội và Bộ Tài chính nghiên cứu, tiếp thu và hoàn thiện. Quản lý nợ công: Một đầu mối sẽ chuyên nghiệp, hiệu quả và trách nhiệm hơn (Thời báo Tài chính 09/8).
Nhiều đại biểu Quốc hội khi cho ý kiến về dự thảo đều thống nhất nguyên tắc cần có một cơ quan đầu mối tổng hợp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về nợ công nhằm khắc phục những bất cập hiện nay, do phân tán đầu mối. Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến đại biểu cho rằng, nếu thay đổi mô hình hiện nay sẽ gây xáo trộn bộ máy nên đề nghị giữ nguyên mô hình hiện tại.
Đại biểu Nguyễn Mạnh Cường (Quảng Bình) tán thành việc kế thừa quy định hiện hành, theo đó giao Bộ Tài chính giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về nợ công, chủ trì đàm phán ký kết các hiệp định thỏa thuận vay cụ thể; Bộ Kế hoạch và Đầu tư thống nhất quản lý vốn vay ODA; còn Ngân hàng Nhà nước chủ trì đàm phán, ký kết các hiệp định vay ODA với các tổ chức tài chính quốc tế là phù hợp, đảm bảo hiệu quả và thời gian qua các cơ quan này vẫn làm tốt nhiệm vụ được giao. Đây cũng là ý kiến của đại biểu Bạch Hương Thủy (Hòa Bình), Giàng Thị Bình (Lào Cai).
Tuy nhiên, nhiều đại biểu không đồng tình phương án này và đã chỉ ra nhiều bất cập trong quản lý nợ công, vốn vay nước ngoài lâu nay. Đại biểu Hoàng Văn Cường (Hà Nội) cho rằng, việc giữ nguyên quy định về đầu mối quản lý nợ công phân chia tách rời thành 3 cơ quan sẽ không gắn giữa trách nhiệm đi vay, sử dụng vốn với trách nhiệm và khả năng trả nợ. Điều này không chỉ gây nguy hại là vượt trần nợ công mà nguy hại hơn là thời hạn và tiến độ trả nợ gốc và lãi không phân bổ đều theo thời gian, không phù hợp với thu, chi ngân sách, thặng dư xuất, nhập khẩu và khả năng trả nợ của nền kinh tế, tạo ra áp lực trả nợ dồn vào từng thời điểm nặng như giai đoạn hiện nay.
Đại biểu Hoàng Quang Hàm (Phú Thọ) cũng cho rằng, để 3 cơ quan quản lý như hiện nay sẽ đỡ xáo trộn bộ máy và có thể phân định trách nhiệm rõ hơn, quy định việc phối hợp rõ hơn để quản lý nợ. Tuy nhiên thực tế là sự phối hợp này chưa bao giờ thông suốt. Bức tranh nợ công phải “lắp ghép” từ nhiều mảnh nên không hoàn chỉnh, không kịp thời và ODA chưa bao giờ kiểm soát được, luôn vượt dự toán, đẩy bội chi, nợ công lên cao ngoài dự kiến; chưa gắn được trách nhiệm vay, phân bổ với trách nhiệm cân đối nguồn để trả nợ, trách nhiệm khi xảy ra thất thoát, lãng phí. “Không thể chối cãi là một đầu mối sẽ tốt hơn, thuận lợi hơn 3 đầu mối vì gắn được trách nhiệm vay, trách nhiệm phân bổ, trách nhiệm sử dụng với trách nhiệm cân đối nguồn và trách nhiệm trong thất thoát, lãng phí”, đại biểu nhấn mạnh.
Cũng theo ý kiến nhiều đại biểu, việc gộp bộ phận quản lý nợ công của nhiều cơ quan về một cơ quan cũng sẽ giảm được biên chế, tăng tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức. Đồng thời làm tăng niềm tin và giảm phiền hà cho người cho vay do chỉ phải làm việc với một đầu mối. Đơn vị sử dụng vốn vay nhất là ODA chỉ phải làm việc với một đầu mối thay vì nhiều đầu mối như hiện nay.
Hơn nữa, khi đưa toàn bộ danh mục nợ công về một đầu mối sẽ nhanh chóng có được bức tranh tổng thể về nợ trong nước, nợ nước ngoài, nợ dài hạn, nợ ngắn hạn, thay vì phải ghép nhiều mảnh  như hiện nay. Từ đó, phục vụ tốt hơn cho công tác phân tích nợ, giảm rủi ro của nợ, giảm các đầu mối tài chính trung gian, giảm chi phí vay. Điều này cũng phù hợp với Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị là rà soát, sắp xếp lại nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị gắn trách nhiệm quyết định chi, quyết định vay với trách nhiệm quản lý ngân sách và trách nhiệm trả nợ. Đây cũng là quan điểm của đại biểu Bùi Thị Quỳnh Thơ (Hà Tĩnh).
Theo đại biểu, nếu giữ nguyên mô hình quản lý như hiện hành là chưa thể chế hóa đầy đủ Nghị quyết 07 về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững. Thực tế lâu nay, nhiều cơ quan cùng quản lý nợ công ở các công đoạn khác nhau dẫn đến tình trạng quản lý phân tán, việc phối hợp chưa chặt chẽ nên công tác theo dõi, tổng hợp báo cáo, quyết toán, thống kê; đặc biệt là xác định trách nhiệm vay, nợ vay, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay, bố trí đối ứng khó khăn, bất cập.
Từ những bất cập thời gian qua, đại biểu Nguyễn Văn Tuyết (Bà Rịa - Vũng Tàu) cho rằng, việc quy định nhiều cơ quan cùng quản lý nợ công như hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu về cải cách hành chính và sẽ không khắc phục được hạn chế đang diễn ra trên thực tế. “Thông lệ quốc tế là theo mô hình tập trung. Một số đại biểu nói rằng, không có một mô hình duy nhất cho tất cả các nước, nhưng chúng ta nên tổng kết lại để xem quá trình quản lý trong thời gian qua đã hiệu quả chưa? Nếu nó hiệu quả thì tại sao việc quản lý nợ  công của chúng ta còn nhiều bất cập như vừa qua?”, đại biểu nêu câu hỏi.
Theo thông lệ quốc tế, nhiều nước trên thế giới đã và đang thực hiện quy định rõ một đầu mối quản lý tập trung thống nhất nguồn nợ công. Theo đại biểu Bùi Thị Quỳnh Thơ, dự thảo luật nên được điều chỉnh theo hướng thực hiện mô hình này, trường hợp cần thiết, có thể điều chỉnh  các luật liên quan cho phù hợp.
3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ tiếp tục cho ý kiến đối với Dự thảo Luật Quy hoạch tại Phiên họp thứ 14 diễn ra vào tháng 9/2017. Vụ trưởng Vụ Quản lý quy hoạch (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), ông Vũ Quang Các hy vọng, Quốc hội sẽ sớm thông qua Luật Quy hoạch sau khi đã được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Quản lý bằng tiêu chuẩn, điều kiện, thay vì quy hoạch (Báo Đầu tư 10/8).
Trong hơn 30 năm đổi mới, đã có rất nhiều thay đổi trong tư duy phát triển, điều hành, quản lý kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, một trong rất ít tư duy cố hữu đã ăn sâu, bám rễ vào tiềm thức của một số bộ, ngành trung ương cũng như địa phương là dùng quy hoạch để quản lý. Vì vậy, trong hơn 30 năm qua, rất nhiều cơ chế, chính sách, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung, ban hành theo tư duy đổi mới, nhưng phương pháp lập quy hoạch vẫn không hề đổi mới.
Luật Quy hoạch thay đổi hẳn tư duy trong công tác lập, tổ chức, thực hiện, điều chỉnh quy hoạch, động chạm tới tất cả các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương tới địa phương, nên cần phải nhận được sự đồng thuận ở mức cao nhất của tất cả các bộ, ngành, địa phương và đại biểu Quốc hội. Trước khi dự kiến trình Quốc hội thông qua, mặc dù Dự thảo Luật Quy hoạch nhận được đa số ý kiến đồng thuận, nhưng vẫn còn một số ý kiến băn khoăn ở một vài nội dung, nên Quốc hội yêu cầu phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
Thuyết phục các bộ, ngành đồng ý với tất cả các nội dung của Dự thảo Luật Quy hoạch là sức ép vô cùng lớn. Vì vậy, trong quá trình xây dựng, Ban soạn thảo phải làm việc trực tiếp với 12 bộ, ngành để nghe phản hồi, giải trình, tiếp thu.
Nhiều bộ cho biết, lần đầu tiên được làm việc, thảo luận, đóng góp ý kiến, đưa ra phản biện trực tiếp với Ban soạn thảo luật. Rất mừng là, với tinh thần cầu thị, thay đổi tư duy quản lý, nên chúng tôi đều nhận được sự ủng hộ rất cao của hầu hết các bộ, ngành. Có bộ, ngành trước đó dứt khoát bảo lưu quan điểm phải quy hoạch ngành nghề, lĩnh vực nào đó, nhưng sau khi làm việc với Ban soạn thảo, đã thay đổi tư duy.
Đơn cử, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội từng bảo lưu quan điểm phải quy hoạch lĩnh vực dạy nghề, hệ thống trường đào tạo nghề, vì chất lượng nguồn nhân lực thấp là nút thắt của sự phát triển, cần phải có quy hoạch để quản lý nhằm tăng chất lượng đào tạo. Nhưng tại buổi thảo luận trực tiếp, chúng tôi khẳng định, không chỉ Nhà nước, mà các thành phần kinh tế khác đều được tham gia lĩnh vực đào tạo nghề. Đào tạo nghề đang được đẩy mạnh xã hội hóa và thực tế cho thấy, nhiều cơ sở đào tạo nghề do thành phần kinh tế khác thực hiện tốt hơn so với cơ sở của Nhà nước, nên không cần thiết phải quy hoạch đào tạo nghề và trường nghề. Cuối cùng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đồng ý với quan điểm của Ban soạn thảo.
Có địa phương lập quy hoạch chăn nuôi gia súc, gia cầm, quy định rõ vùng nào nuôi loại động vật gì, nuôi bao nhiêu, lộ trình phát triển số lượng đàn gia súc, gia cầm ra sao. Lãnh đạo địa phương báo cáo thành tích, nhờ có quy hoạch, nên đã loại bỏ được… 8 dự án chăn nuôi. Có không ít khách sạn muốn mở thêm phòng hát karaoke để phục vụ khách du lịch lưu trú, nhưng không được chấp thuận, chỉ vì khu vực mở phòng hát karaoke không có quy hoạch. Hay một số tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long quy hoạch hệ thống quán karaoke theo kiểu quy định xã, phường, thị trấn có bao nhiêu quán, nơi nào thừa thì cắt bớt, nơi nào thiếu thì bổ sung vào quy hoạch một cách rất phi thị trường.
Hiện có hàng ngàn ví dụ về quy hoạch không sát với thực tế cuộc sống, vì tư duy cũ cho rằng, quy hoạch là quản lý nhà nước, nếu bỏ quy hoạch sản phẩm, thì mất vai trò quản lý nhà nước. Tôi khẳng định, bỏ quy hoạch sản phẩm không làm mất đi, mà thậm chí còn tăng cường vai trò quản lý nhà nước. Quản lý bằng quy hoạch không chỉ làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước, vì có quy hoạch người dân cũng không thực hiện, mà còn hạn chế thu hút đầu tư, hạn chế quyền kinh doanh của tổ chức, cá nhân.
Giai đoạn 2001-2010, ngân sách đã phải bỏ ra 2.881 tỷ đồng để lập 3.114 quy hoạch. Giai đoạn 2011-2020, số quy hoạch phải lập theo các quy định là 12.860 bản, thì số tiền chắc chắn sẽ lớn hơn rất nhiều, chưa tính hàng ngàn quy hoạch có thể sẽ được điều chỉnh với vô vàn lý do khác nhau.
Lãng phí trong quy hoạch không phải là về tiền, mà đó chính là hàng ngàn bản quy hoạch không bao giờ thực hiện được vì không phù hợp, vì quy hoạch chồng quy hoạch, quy hoạch này mâu thuẫn với quy hoạch khác, làm kìm hãm sự phát triển, cản trở hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp. Luật Quy hoạch không đề cập việc tiết kiệm trong công tác lập quy hoạch, mà nhấn mạnh tới chất lượng của các bản quy hoạch. Quy hoạch lập ra phải tận dụng tối đa, khai thác hiệu quả không gian phát triển, phát huy nguồn lực của cả xã hội.
Thực tế đã cho thấy, thay vì làm quy hoạch theo đơn giá chỉ mất 3-5 tỷ đồng, nhiều tỉnh sẵn sàng bỏ ra 50-60 tỷ đồng thuê các chuyên gia tư vấn hàng đầu trong nhiều lĩnh vực trong và ngoài nước. Kết quả là các quy hoạch này rất phù hợp, hiệu quả, khai thác tối đa nguồn lực và không phải sửa đổi, bổ sung trong thời gian dài.
4. Rà soát hơn 400 văn bản pháp luật, Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư đã tập hợp gần 300 các loại giấy phép cần phải bổ sung, sửa đổi hoặc bãi bỏ. Trong đó, có 43 giấy phép được kiến nghị bãi bỏ vì không có căn cứ pháp lý. Nhưng nhiều tháng trôi qua vẫn chưa thấy phản hồi từ phía các bộ, ngành - nơi đã ban hành giấy phép “con”, “cháu”… ‘‘Cuộc chiến’’ giấy phép ‘‘con’’: Chưa có hồi kết! (Báo Đầu tư 01/8).
Sau khi được thành lập theo quyết định của Thủ tướng, Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư (gọi tắt là Tổ công tác) đã cùng với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) rà soát 289/320 loại giấy phép kinh doanh và các hình thức khác nhưng có tính chất như giấy phép mà tổ này tập hợp được.
Trên cơ sở xem xét tính hợp pháp, tính cần thiết, tính cụ thể, hợp lý, hiệu quả..., đồng thời đối chiếu với các luật, pháp lệnh, nghị định hiện hành, Tổ Công tác đã kiến nghị bãi bỏ hoàn toàn 43 giấp phép vì không có cơ sở pháp lý. “Theo khoản 5, Điều 7 Luật Doanh nghiệp, giấy phép kinh doanh nói chung phải được quy định bởi luật, pháp luật, nghị định, hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, giấy phép, hoặc có tính chất giấy phép do các bộ, hay UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành là không đúng với Luật Doanh nghiệp, không có cơ sở pháp lý” -TS Nguyễn Đình Cung, Trưởng Ban Nghiên cứu kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Thư ký Tổ Công tác giải thích.
Trong số giấy phép đề nghị bãi bỏ, đáng chú ý có giấy phép cung cấp dịch vụ ứng dụng công nghệ Internet trong viễn thông cấp cho OSP viễn thông của ngành bưu chính viễn thông; giấy phép khắc dấu của Bộ Công an; văn bản “xác nhận đáp ứng điều kiện kỹ thuật nghiệp vụ” để cung cấp trò chơi trực tuyến trong Thông tư liên tịch số 60 giữa Bộ VH-TT, Bộ BCVT và Bộ Công an...
Trong một cuộc rà soát khác, VCCI cũng phát hiện 37 giấy phép kinh doanh bất hợp lý, ban hành trái Luật Doanh nghiệp và nhiều luật, pháp lệnh hiện hành, nhiều giấy phép được “đẻ” ra mà không có căn cứ pháp lý rõ ràng. Theo ông Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế VCCI: “Có 35% số giấy phép là không cần thiết, hiểu theo nghĩa bảo vệ lợi ích công cộng; có 89% số GP có vấn đề về trình tự thủ tục”.
Hơn một năm sau khi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư có hiệu lực, sau khi 43 giấy phép “con” trên được chuyển về từng đơn vị đã “đẻ ra” để xử lý, thì các bộ, ngành chỉ nhất trí bãi bỏ một vài giấy phép trong số này. Một vài loại giấy đã được bãi bỏ một cách đơn lẻ. Thí dụ, Bộ GT-VT đã bãi bỏ yêu cầu về hiệp thương trong vận tải hành khách và giấp phép “cháu” về sử dụng bộ đàm taxi…”. Số giấy phép còn lại đa số các bộ, ngành đều chưa đồng ý bãi bỏ. Lý do khước từ được đưa ra là những giấy phép đó vẫn cần thiết cho công việc quản lý của bộ, ngành đó.
Chủ tịch Hiệp hội Công thương Hà Nội Vũ Duy Thái, cho rằng các bộ, ngành chức năng đã không chia sẻ “nhọc nhằn” với doanh nghiệp trong vấn đề giấy phép nên đã viện dẫn ra nhiều lý do để bảo lưu hoặc miễn cưỡng phải bổ sung, chuyển đổi giấy phép sang điều kiện kinh doanh. Kết quả, từ năm 2000 tới nay số lượng giấy phép bãi bỏ được quá ít và số giấy phép “con” không cần thiết lại sinh ra mỗi tuần.
Ông Vũ Quốc Tuấn, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, người đã nhiều năm gắn bó với Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp, cho rằng nên có một hướng khác thay vì cách làm như hiện nay là hỏi ý kiến các bộ, ngành. Bởi họ sẽ vẫn tiếp tục bằng mọi cách “ôm” các giấy phép được đề nghị bãi bỏ, nghĩa là môi trường kinh doanh vẫn không được cải thiện.
Thực tế cũng có nhiều chỉ thị yêu cầu các bộ, ngành và UBND địa phương tự rà soát các giấy phép không cần thiết, song kết quả không nhiều. Luật gia Vũ Xuân Tiền bộc bạch: “Chẳng ai tự nhiên muốn tự đập vỡ “niêu cơm” của mình. Mỗi lần ký giấy phép là có thêm khoản thu nhập, nên người ta phải ra sức bảo vệ nó”. Vì vậy, thay vì hỏi ý kiến các bộ, ngành, nên tổ chức hỏi ý kiến doanh nghiệp về sự cần thiết duy trì từng loại giấy phép, qua đó trao đổi lấy ý kiến của các chuyên gia, hiệp hội để giải quyết.
4. Sau hơn 30 năm đổi mới, nhận thức của Đảng ta về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân (KTTN) có những bước tiến quan trọng. Tại Đại hội XII (tháng 1-2016), Đảng ta khẳng định: KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế.  Đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống: Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh (Báo Quân đội nhân dân 12/8).
Mới đây, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, đưa ra những giải pháp đồng bộ để phát triển KTTN lành mạnh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Để nghị quyết đi nhanh vào cuộc sống, sẽ còn rất nhiều việc phải làm.
Khái niệm KTTN được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Cả hai thành phần kinh tế trên thuộc cùng chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; tuy nhiên, quy mô sở hữu là khác nhau. KTTN có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang trong thời kỳ công nghiệp hóa.
Ở nước ta, kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, vị trí, vai trò của KTTN ngày càng được khẳng định. Tại Đại hội VI (tháng 12-1986), nền kinh tế nhiều thành phần đã được thừa nhận chính thức trong Văn kiện Đảng. Tuy nhiên lúc này, KTTN nói riêng, các thành phần kinh tế phi XHCN nói chung vẫn được coi là đối tượng phải “cải tạo”, bằng những hình thức và bước đi thích hợp, tránh chủ quan nóng vội. Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng ta đã đưa ra quan điểm rõ ràng hơn về việc khuyến khích và tạo điều kiện cho KTTN phát triển. Văn kiện Đại hội VII khẳng định: “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà luật pháp không cấm”. Tại Đại hội VIII (tháng 6-1996), Đảng ta khẳng định việc đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế, đồng thời cần tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài.
Bước phát triển mới trong quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của KTTN thể hiện trong Văn kiện Đại hội IX (tháng 4-2001), khi Đảng ta khẳng định kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế có vị trí quan trọng lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. 
Tại Đại hội X (tháng 4-2006) của Đảng, KTTN chính thức được xác nhận là một thành phần kinh tế trên cơ sở hợp nhất hai thành phần kinh tế: Cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Văn kiện Đại hội nêu rõ: “KTTN có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”. Đại hội đã thông qua quyết định rất quan trọng là cho phép đảng viên được làm KTTN. Đại hội XI (tháng 1-2011) của Đảng tiếp tục xác định phải hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh KTTN trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. 
Một trong những điểm mới quan trọng ở Đại hội XII so với các kỳ đại hội trước của Đảng ta là vấn đề phát triển KTTN. Văn kiện Đại hội nhấn mạnh: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh KTTN ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế… Khuyến khích hình thành các tập đoàn KTTN đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”. Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XII, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương đã thông qua Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3-6-2017 “Về phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết là bước tiến mới, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho khu vực KTTN và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Theo đánh giá của Ban Chấp hành Trung ương, trong những năm qua, nhận thức của chúng ta về vị trí, vai trò của KTTN đã có những bước tiến quan trọng. Từ chỗ kỳ thị, coi nhẹ đã thừa nhận KTTN "là một động lực quan trọng" để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Quốc hội, Chính phủ đã quan tâm thông qua việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách xây dựng khung pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn, bình đẳng hơn cho KTTN phát triển. Trên thực tế ở nước ta, khu vực KTTN có tốc độ phát triển nhanh hơn các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế, chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cả nước. Nếu như năm 2002, khu vực KTTN chiếm 27%, năm 2010 chiếm 42,96%, thì đến năm 2015 đã chiếm 43,22% GDP cả nước.
Hiện nay, khu vực KTTN thu hút gần 85% lực lượng lao động cả nước, hằng năm tạo ra khoảng 1 triệu việc làm cho người lao động, góp phần quan trọng vào quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt là tạo việc làm mới cho những đối tượng bị giảm biên chế hoặc mất việc làm do quá trình tinh giản bộ máy hành chính, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hay dịch chuyển lao động từ khu vực nông thôn.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 7 tháng đầu năm nay, cả nước có 72.953 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 690,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,8% về số doanh nghiệp và tăng 39% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, còn có 17.549 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 7 tháng lên hơn 90,5 nghìn doanh nghiệp. Đa số doanh nghiệp nói trên thuộc về KTTN.
Tuy nhiên, KTTN ở Việt Nam hiện nay tuy phát triển nhanh nhưng vẫn chưa mạnh, chưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Thành phần chủ yếu vẫn là kinh tế hộ gia đình, cá thể (chiếm khoảng 95%) và doanh nghiệp có quy mô nhỏ (hơn 90% có mức vốn dưới 1 tỷ đồng), trình độ công nghệ thấp và chậm đổi mới, năng lực tài chính, năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh còn thấp, trình độ quản trị, tính liên kết còn yếu; khả năng tham gia chuỗi giá trị trong nước và quốc tế còn thấp. Rất nhiều doanh nghiệp tư nhân vừa mới ra đời đã phải ngừng hoạt động, giải thể hoặc phá sản.
Cũng theo số liệu của Tổng cục Thống kê, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 7 tháng năm 2017 của cả nước là 6.608 doanh nghiệp, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, có 2.705 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (chiếm 40,9%); 1.936 công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên (chiếm 29,3%); 1.116 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 16,9%) và 851 công ty cổ phần (chiếm 12,9%). Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 7 tháng năm 2017 là 43.274 doanh nghiệp, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước . 
Theo báo cáo của các cơ quan chức năng quản lý nhà nước thì hiện vẫn còn nhiều doanh nghiệp của tư nhân không bảo đảm lợi ích của người lao động, nợ bảo hiểm xã hội, báo cáo tài chính không trung thực, nợ quá hạn ngân hàng, trốn thuế và nợ thuế kéo dài. Xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa các doanh nghiệp của tư nhân và cơ quan quản lý nhà nước, can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để có đặc quyền, đặc lợi, hình thành "lợi ích nhóm", gây hậu quả xấu về kinh tế-xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân.
II. KINH TẾ - PHÁT TRIỂN
1. Theo PGS - TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, nếu quyết liệt thực hiện Nghị quyết 70/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công, thì mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,7% năm 2017 có thể thực hiện được. Có thể hoàn thành kế hoạch giải ngân đầu tư công? (Báo Đầu tư 14/8).
Vốn đầu tư công năm 2016 giải ngân (tính đến ngày 31/1/2017) chỉ đạt 89,8% kế hoạch (304.219,4 tỷ đồng), thấp hơn so với tỷ lệ giải ngân năm 2015 là 92,8% kế hoạch. Còn trong 7 tháng vừa qua, theo số liệu của Bộ Tài chính, chi đầu tư phát triển (chủ yếu là chi đầu từ xây dựng cơ bản) mới đạt 33,4% dự toán năm.
Trong các phiên họp thường kỳ Chính phủ mấy tháng gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo, nên tình hình giải ngân vốn đầu tư công bắt đầu đã có chuyển biến tích cực. Trong đó, giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản tháng 7 đã gấp khoảng 1,8 lần so với tháng 6. Với Nghị quyết 70/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công vừa được ban hành, hy vọng năm nay sẽ hoàn thành 100% kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công.
Nguyên nhân rất nhiều, nhưng quan trọng nhất là phân bổ vốn chậm. Cụ thể, đến trung tuần tháng 2/2017, vẫn còn 13/45 bộ, cơ quan trung ương và 7/63 địa phương chưa triển khai phân bổ vốn đầu tư đến từng dự án.
Giải ngân vốn đầu tư công chậm vì bất cứ lý do gì thì cũng đều dẫn đến tình trạng những tháng đầu năm các dự án, công trình phải làm cầm chừng hoặc phải đi vay để làm, sau đó phải “vắt chân lên cổ” vào những tháng cuối năm để hoàn thành tiến độ, phấn đấu hoàn thành mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công.
Các văn bản hiện hành chỉ quy định, đối với nguồn vốn trong nước, bố trí đủ vốn để thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản; thu hồi các khoản ứng trước; bố trí vốn đối ứng cho dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài; vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức PPP; bố trí vốn cho các dự án chuyển tiếp hoàn thành trong giai đoạn 2016-2020.
Sau khi bố trí đủ vốn theo thứ tự ưu tiên nêu trên, trường hợp còn vốn sẽ xem xét bố trí cho các dự án khởi công mới thực sự cấp bách. Đối với nguồn vốn nước ngoài, bố trí đủ kế hoạch vốn cho các dự án có khả năng thực hiện và giải ngân theo các hiệp định vay vốn đã ký kết.
Nói chung, ngoài bố trí vốn để thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản, thu hồi vốn ứng trước thì chỉ bố trí vốn cho những dự án cần thiết, cấp bách, phát huy hiệu quả. Nhưng thế nào là cần thiết, thế nào là cấp bách, thế nào là phát huy hiệu quả thì không có định lượng, tiêu chí rõ ràng nên mất rất nhiều thời gian cân nhắc, đánh giá đã ảnh hưởng tới khoảng thời gian thực hiện công tác phân bổ vốn.
Nếu giải ngân đạt kế hoạch (357.150 tỷ đồng, chưa bao gồm hơn 12.0000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ từ năm 2016 chuyển sang) kéo theo tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng khoảng 300.000 tỷ đồng và GDP sẽ tăng thêm khoảng 100.000 tỷ đồng, góp phần đáng kể để trong thực hiện mục tiêu tăng GDP 6,7%.
2. Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện nhiệm vụ của Bộ Giao thông vận tải. Xử lý vướng mắc trong phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công ngành giao thông (Báo Đầu tư 11/8).
Về phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 và bố trí vốn trả nợ các dự án BT, Phó Thủ tướng giao Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan thống nhất phương án sử dụng vốn đầu tư công trung hạn 2016-2020, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trước khi báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội theo quy định, trong đó làm rõ 3 nội dung:
Thứ nhất, dự kiến phân bổ 15.000 tỷ đồng (phần còn lại 70.000 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 26/2016/QH14 ngày 10/11/2016), lưu ý bổ sung kinh phí nâng cấp đoạn Quản Lộ - Phụng Hiệp để bảo đảm giao thông cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ hai, dự kiến sử dụng nguồn dự phòng 10% của Bộ Giao thông vận tải để thực hiện 27 dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước đang thực hiện dở dang.
Thứ ba, bổ sung vốn đối ứng ODA, vốn trả nợ các dự án BT và phần còn thiếu cho các dự án vốn ngân sách nhà nước đang thực hiện dở dang để bảo đảm hoàn thành đến điểm dừng kỹ thuật.
Về dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Dự án cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất và Dự án cảng hàng không quốc tế Long Thành: Thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
3. Báo cáo kinh tế tháng 7 của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia vừa công bố cho thấy, dòng đầu tư gián tiếp nước ngoài gia tăng do tăng trưởng kinh tế tháng 7 tiếp tục đà phục hồi sau khi có biểu hiện thoát đáy từ quý II-2017. Dòng đầu tư gián tiếp nước ngoài gia tăng do kinh tế tiếp đà phục hồi (Báo Nhân dân 09/8).
Lạm phát tiếp tục duy trì ở mức thấp, tạo yếu tố hỗ trợ cho việc giảm lãi suất trong những tháng cuối năm. Lãi suất huy động trong tháng 7 tương đối ổn định trong khi lãi suất cho vay có dấu hiệu giảm dần sau khi Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất điều hành. Việc lãi suất giảm, tín dụng tăng trưởng tích cực và tỷ giá USD/VNĐ tiếp tục xu hướng giảm sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất trong những tháng cuối năm.
Thị trường cổ phiếu đã điều chỉnh giảm, song xu hướng trung và dài hạn của thị trường vẫn tích cực nhờ nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định và mặt bằng giá cổ phiếu ở mức hợp lý.
Dòng đầu tư gián tiếp nước ngoài tiếp tục gia tăng do kinh tế vĩ mô có dấu hiệu phục hồi, lạm phát ở mức thấp. Từ đầu tháng 7, khối ngoại mua ròng 135 triệu USD, trong đó mua ròng 29 triệu USD cổ phiếu và 106 triệu USD trái phiếu. Lũy kế từ đầu năm đến nay, tổng giá trị mua ròng của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 1,2 tỷ USD. Tổng giá trị thị trường danh mục nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài đạt 25,4 tỷ USD, tăng 25% so với cuối năm 2016. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài trên thị trường cổ phiếu ước đạt 19,3% và trên thị trường trái phiếu Chính phủ là 5,3%.
4. Bộ Tài chính vừa hoàn thành báo cáo chuyên đề về chính sách thuế với bất động sản (BĐS), trong đó có đề xuất đánh thuế với người sở hữu từ 2 nhà, đất trở lên. Đánh thuế người sở hữu từ hai bất động sản trở lên: Chặn đầu cơ, bình ổn thị trường (Báo Kinh tế đô thị 11/8).
TS.Luật sư Bùi Quang Tín thừa nhận, nếu đề xuất này được thông qua sẽ có tình trạng thuế chồng thuế. Tuy nhiên, đề xuất này đúng với thông lệ quốc tế và đảm bảo công bằng thuế. “Người nhiều tài sản, nhiều thu nhập chắc chắn phải đóng thuế nhiều hơn người nghèo, đóng góp nghĩa vụ cho ngân sách Nhà nước” - ông Tín cho hay. Cùng quan điểm, TS Nguyễn Trí Hiếu cho rằng ở các nước tiên tiến, với căn nhà thứ nhất là căn nhà để ở thì Chính phủ hỗ trợ, còn căn nhà thứ hai thường là để kinh doanh hoặc đầu tư thì sẽ bị đánh thuế. Đơn cử ở Mỹ, căn nhà thứ nhất, Chính phủ hỗ trợ người mua nhà bằng cách không đánh thuế phần thu nhập dùng để trả lãi cho các ngân hàng. Với căn nhà thứ hai, tất cả các thu nhập để trả lãi cho ngân hàng đều phải chịu đánh thuế như tất cả các thu nhập khác.
Tổng Thư ký Hội môi giới BĐS Hà Nội Nguyễn Văn Đính cũng cho rằng, ở các nước khác việc đánh thuế đối với căn nhà thứ hai là bình thường nhằm hai mục đích hạn chế đầu cơ và đảm bảo tính nhân văn của xã hội. Ông Đính phân tích, việc đánh thuế này cũng nhằm mục đích cân đối lại giữa người giàu - người nghèo, người thừa nhà - người thiếu nhà. Cụ thể, nguồn thuế từ người nhiều nhà có thể dùng để hỗ trợ cho người thiếu nhà. Đó là tính nhân văn của xã hội.
Theo báo cáo chuyên đề về chính sách thuế với BĐS vừa được Bộ Tài chính công bố, xét về vai trò điều tiết thị trường, mức thuế sử dụng đất phi nông nghiệp áp dụng từ 2012 trở lại đây tại Việt Nam chưa đủ lớn để hạn chế tình trạng khan hiếm giả tạo về cung trên thị trường BĐS. Đại diện Bộ Tài chính cho biết, thị trường BĐS được kỳ vọng phát triển ổn định và bền vững hơn trong thời gian tới khi hàng loạt chính sách mới liên quan có hiệu lực; thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam liên tục tăng trong các năm gần đây, việc nắm giữ, sở hữu, đầu tư BĐS của người dân có xu hướng tăng lên. Vì vậy, để có một hệ thống chính sách thuế đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần bình ổn thị trường, hạn chế đầu cơ và sử dụng BĐS lãng phí cần nghiên cứu, xây dựng Luật Thuế tài sản.
Nguyên thứ trưởng Bộ TN &MT Đặng Hùng Võ cho rằng, ông đồng tình với quan điểm của Bộ Tài Chính cần nghiên cứu ban hành luật riêng về Thuế tài sản. Khi đánh thuế tài sản BĐS thứ 2 thị trường sẽ ổn định hơn, tình trạng đầu cơ đất sẽ giảm đi, người nghèo có thêm cơ hội để sở hữu BĐS. Ông Võ phân tích, ai có tiền vẫn có thể sở hữu BĐS nhưng phải đóng thuế. Luật pháp không ngăn cản sở hữu tài sản nhưng phải công bằng. Người mua được 2 nhà thì phải đóng được thuế. “Việc này vừa góp phần tăng thu vừa điều tiết thị trường. Như vậy ai có ý định đầu cơ cũng phải suy nghĩ lại, giảm được tình trạng bong bóng nhà đất” - ông Võ nhấn mạnh.
Chủ trương đánh thuế tài sản là cần thiết nhưng thực thi vẫn còn nhiều khó khăn nên cơ quan lập pháp sẽ còn phải cân nhắc rất nhiều. Trong đó, khó khăn lớn nhất là vấn đề minh bạch trong thị trường BĐS, trong vấn đề sở hữu tài sản và vấn đề đồng bộ với rất nhiều luật khác.
Thực tế cho thấy, các cơn sốt tạo nên bong bóng BĐS như năm 2009 - 2010 và bong bóng tại một số khu vực thời gian qua có nguyên nhân lớn từ đầu cơ BĐS. Vì thế, việc đánh thuế với người sở hữu nhiều nhà đất là cần thiết để hạn chế tình trạng đầu cơ, lướt sóng làm méo mó thị trường.
5. Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cả nước đang có khoảng 600.000 doanh nghiệp tư nhân chính thức, hầu hết là nhỏ bé và khó phát triển mà một trong những “rào cản” là do khoản chi phí đầu vào quá lớn. Do vậy, các chuyên gia chỉ ra rằng, để giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, một trong các biện pháp là cần tăng cường năng lực phối hợp giữa các bộ, ngành. Giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp: Bắt đầu từ năng lực phối hợp (Báo Người đại biểu nhân dân 12/8).
Tại cuộc họp báo Chính phủ vừa qua, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết, tính chung 7 tháng, cả nước có 73.000 doanh nghiệp thành lập mới; 17.000 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, doanh nghiệp thành lập mới còn nhiều khó khăn.
Phân tích những khó khăn của doanh nghiệp, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Mai Tiến Dũng cho biết, hiện còn 5.719 thủ tục hành chính, giấy phép của các bộ, ngành khiến thời gian, chi phí thông quan hàng hóa “lớn”, gây khó cho doanh nghiệp.
Trong đó, nhiều nhất là Bộ Công thương có 27 ngành nghề kinh doanh có điều kiện thuộc phạm vi quản lý với 1.220 điều kiện kinh doanh; Bộ Xây dựng ít nhất cũng lên tới 17 ngành nghề kinh doanh có điều kiện với 106 điều kiện kinh doanh!
Mặt khác, theo VCCI, Việt Nam đang có khoảng 600.000 doanh nghiệp tư nhân chính thức, hầu hết đều nhỏ bé và không thể lớn.
Một nghiên cứu tập trung trong ngành chế biến, chế tạo của Chuyên gia kinh tế, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Economica Việt Nam Lê Duy Bình đưa ra lý do, hầu hết doanh nghiệp tư nhân không có khả năng tích tụ vốn.
Mức đóng thuế, phí và các khoản nộp ngân sách của các doanh nghiệp luôn gấp 2 - 3 lần so với mức lợi nhuận trước thuế. Với các doanh nghiệp siêu nhỏ, tỷ lệ này thậm chí lên tới 4 - 4,5 lần.
Đáng báo động là tốc độ tăng của các khoản thuế, phí và các khoản phải nộp ngân sách tại các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong những năm qua nhanh hơn nhiều so với mức cải thiện về lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp.
Còn theo điều tra doanh nghiệp của VCCI nhiều năm liền thì tỷ lệ chi trả chi phí không chính thức của doanh nghiệp khá cao. Điều tra năm 2016 tỷ lệ này là 66%.
Đáng lo ngại là các doanh nghiệp nhỏ thường có tỷ lệ chi phí không chính thức trên thu nhập cao hơn, làm hạn chế đổi mới sáng tạo, làm tổn hại đến khả năng chiến lược và cản trở sự lớn mạnh của doanh nghiệp.
Lý giải cho chi phí đầu vào của các doanh nghiệp còn cao, Tổng Thư ký Diễn đàn Kinh tế Tư nhân (VPSF) Đào Huy Giám cho rằng, Việt Nam có tới 25 bộ, ngành, mỗi lĩnh vực lại có các bộ, ngành cùng quản lý.
Chẳng hạn, lĩnh vực phân bón thuộc sự quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Công thương. Trong khi mỗi bộ lại có nhiều tầng nấc từ Trung ương đến tỉnh, cơ sở, do đó dẫn tới tình trạng lúng túng trong cách quản lý.
Đồng thời, năng lực phối hợp giữa các bộ, ngành còn kém, trình độ chuyên môn chưa cao nên việc triển khai các chủ trương, chính sách thiếu đồng bộ, vẫn còn tình trạng cấp Trung ương chỉ đạo rất quyết liệt nhưng cấp dưới thực hiện lúng túng.
Cơ chế “xin - cho” vẫn phổ biến nên có hiện tượng “bôi trơn” giữa các cán bộ quản lý, giữa doanh nghiệp với cán bộ nhà nước là điều dễ hiểu.
Theo các chuyên gia, thời gian qua, Chính phủ đã rất nỗ lực trong việc cải cách thủ tục hành chính và cũng đã đạt được những kết quả ở một số bộ, ngành, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế.
Để giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Mai Tiến Dũng cho biết, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư rà soát lại toàn bộ thủ tục liên quan đến tiếp cận giấy phép đầu tư, giấy phép xây dựng, tiếp cận đất đai, thông tin, chi phí phát sinh để làm các thủ tục.
Đối với những chi phí không chính thức, cần nhiều biện pháp, đặc biệt là công khai, minh bạch, nhất là chỉ đạo tập trung ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách thủ tục hành chính; giảm các chi phí về dịch vụ công như đăng ký kinh doanh, đăng ký thương hiệu, khai báo thuế hải quan.
III. VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Với phương án tăng lương tối thiểu năm 2018 lên 6,5%, đại diện Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (LĐLĐ VN) và đại diện người sử dụng lao động đều cho rằng vẫn "chưa hài lòng" với mức tăng này. (Báo Tuổi trẻ 08/8).
Theo ông Doãn Mậu Diệp - thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH, chủ tịch Hội đồng Tiền lương quốc gia, Hội đồng Tiền lương quốc gia đã chốt phương án tăng lương tối thiểu năm 2018 lên 6,5% (so với hiện hành), tương đương mức tăng từ 180.000 đến 230.000 đồng (tùy từng vùng) để trình Chính phủ quyết định.
Theo ông Chính, với mức tăng 6,5%, lộ trình tăng lương tối thiểu để đáp ứng mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ như Luật lao động quy định có thể phải kéo dài đến sau năm 2020.
Về phía đại diện người sử dụng lao động, ông Hoàng Quang Phòng, phó chủ tịch VCCI, “cũng chưa hài lòng với kết quả tăng 6,5%”. Ông Phòng cho rằng tình hình kinh tế đất nước đã có những cải thiện, nhưng doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn.
Bà Tống Thị Minh, vụ trưởng Vụ Quan hệ lao động và tiền lương (Bộ LĐ-TB&XH), cho rằng lương tối thiểu chỉ là mức sàn thấp nhất nhằm bảo vệ những lao động yếu thế, để người lao động không bị bóc lột, để người sử dụng lao động không được trả lương thấp hơn mức này. Theo bà Minh, trong cơ cấu thu nhập của người lao động, lương tối thiểu chiếm 40-60%, còn lại là lương trung bình.
2. Khi năm học mới 2017-2018 đang đến gần, dư luận lại băn khoăn về việc có nên tiếp tục triển khai mô hình trường học mới hay không? Mô hình trường học mới: Triển khai ồ ạt rồi dừng đột ngột (Báo An ninh thủ đô 8/8).
Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ khẳng định, mô hình giáo dục trường học mới VNEN là một phương pháp học tập rất tiến bộ và ưu việt. Tuy nhiên, do chưa có sự chuẩn bị tốt về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất nên việc triển khai mô hình này chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Năm học 2016-2017, Sở GD-ĐT Hà Tĩnh đã có văn bản yêu cầu 100% các trường tiểu học và THCS xây dựng kế hoạch, triển khai mô hình trường học mới. Chỉ đạo này đã vấp phải phản ứng của phụ huynh ở một số nơi. Trước tình hình này, tháng 7-2016, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có văn bản yêu cầu Sở GD-ĐT giữ nguyên quy mô đang triển khai để đánh giá, tổng kết mô hình trước khi nhân rộng.
Mới đây, Sở GD-ĐT Hải Phòng cũng được yêu cầu khẩn trương báo cáo trước năm học mới 2017-2018 để quyết định lựa chọn việc dừng hay tiếp tục triển khai chương trình VNEN. Theo tìm hiểu, mô hình trường học VNEN tại Hải Phòng bắt đầu được triển khai từ năm học 2012-2013.  Qua hơn 4 năm triển khai, có 12/15 quận, huyện áp dụng với hai cấp là tiểu học và THCS với hơn 150 trường học.
Tại Hà Giang, năm học 2015-2016 cũng đã triển khai chương trình VNEN đồng loạt tại 11/11 trường tiểu học và 7/9 trường THCS trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trước sự phản đối của phụ huynh, tháng 7-2016, UBND tỉnh Hà Giang có quyết định ngừng thực hiện mô hình VNEN để quay về mô hình truyền thống.
Tại Hà Nội, ông Phạm Xuân Tiến, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT cho biết, mô hình VNEN đã đem lại một số kết quả khả quan như: học sinh có hứng thú, kết quả đánh giá chất lượng học khá ổn… Hiện nay, Hà Nội có 114 trường tiểu học đã triển khai toàn phần VNEN, ngoài ra, còn có hàng trăm trường tiểu học vẫn áp dụng từng phần của VNEN theo điều kiện thực tế.
Có nơi áp dụng cách thức tổ chức lớp học, nơi lựa chọn đổi mới phương pháp đánh giá học sinh, nơi đầu tư nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn hoặc ưu tiên cho đổi mới hoạt động quản lý nhằm tăng quyền tự chủ, tạo điều kiện cho giáo viên chủ động, giảm bớt áp lực từ quản lý hành chính… Còn với cấp THCS, Hà Nội mới có khoảng 10 trường đã tham gia thử nghiệm mô hình mới từ các năm học trước.
Trước hàng loạt diễn biến trái chiều ở các địa phương, ngày 4-8, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ nhận định, do chưa có sự chuẩn bị tốt về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất nên việc triển khai mô hình VNEN chưa đạt được kết quả như mong muốn.
“Khi đưa một mô hình, phương pháp giáo dục mới vào triển khai, việc đầu tiên phải tính đến là các điều kiện để thực hiện nó, trong đó, có đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất cần thiết. VNEN thời gian qua tạo ra những luồng dư luận băn khoăn, phản đối là bởi khi áp dụng vào thực tiễn, một số trường đã không dành đủ thời gian để tập huấn giáo viên, giúp họ có sự chuẩn bị tốt cả về chuyên môn và phương pháp, chưa tính toán thấu đáo quy mô trường lớp, sĩ số học sinh cho phù hợp với phương pháp mới” - Bộ trưởng khẳng định.
Do đó, Bộ trưởng yêu cầu các Sở GD-ĐT phải rà soát lại, nếu trường nào chưa đủ điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất thì dừng triển khai VNEN. “Không được mở rộng nếu chưa đáp ứng được yêu cầu về giáo viên, cơ sở vật chất theo phương pháp dạy/học mới này” - Bộ trưởng lưu ý.
Trước tình hình trên, Sở GD-ĐT Hà Nội cho biết, năm học 2017-2018, Hà Nội không triển khai đại trà VNEN. Hà Nội vẫn đang trong quá trình thí điểm mô hình nên không triển khai ồ ạt, cần có những bước đi thận trọng. Do vậy, những trường đang thí điểm vẫn sẽ tiếp tục áp dụng mô hình này nhưng Sở yêu cầu hiệu trưởng tham gia quản lý chuyên môn để nâng cao chất lượng giờ dạy, làm tốt vấn đề tâm lý cho giáo viên, phụ huynh.
Sở GD-ĐT Hà Nội khuyến khích các nhà trường chủ động nghiên cứu, lựa chọn cách thức tiếp cận VNEN phù hợp, thiết thực, đạt hiệu quả cao nhất trong việc phát triển năng lực, phẩm chất học sinh. Tuy nhiên, năm học này, Hà Nội không có trường nào đăng ký mới áp dụng mô hình này.
3. Tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, la liệt các ca sốt xuất huyết (SXH) được chuyển tới. Do quá tải, việc thăm khám cho bệnh nhân phải thực hiện cả ở… hội trường. Sốt xuất huyết hoành hành dữ dội (Báo Lao động 09/8).
Do có quá nhiều bệnh nhân sốt xuất huyết nhập viện, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương phải kê thêm giường bệnh vào hội trường (ảnh chụp sáng 8.8).
Tuần đầu tháng 8, Hà Nội ghi nhận đến hơn 2.700 bệnh nhân mắc SXH, nâng số người mắc lên con số hơn 11.750 ca, trong đó có 6 ca tử vong. TPHCM ghi nhận hơn 11.000 ca bệnh, tăng 23% so với cùng kỳ. Hiện cả nước đã ghi nhận 71.410 trường hợp mắc, 20 ca tử vong, số bệnh nhân SXH tăng 24% so với cùng kỳ năm 2016.
Ths-Bs Nguyễn Trung Cấp - Khoa Cấp cứu, BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương - không ngơi tay, cho biết: Bệnh SXH đang vào giai đoạn căng nhất. Bệnh nhân nhập viện đông, bác sĩ phải làm việc thông trưa, tăng ca, hầu như không có ngày nghỉ. Giờ ăn trưa của bác sĩ chỉ trong chớp nhoáng rồi lại quay vào với bệnh nhân. Giờ làm việc được đẩy lên 7h và kết thúc lúc 17h30. BV phải dùng hội trường kê thêm giường điều trị.
Bác sĩ Trần Hải Ninh - Trưởng Phòng Kế hoạch tổng hợp, BV Bệnh nhiệt đới Trung ương - cho biết, thời điểm này mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận khoảng 1.000 bệnh nhân đến khám, trong đó 60-80% là bệnh nhân SXH. Điều đáng nói, do quá tải bệnh nhân SXH bệnh viện buộc phải kê thêm giường ở những khu trống, dùng hội trường làm khu điều trị ban ngày. Bệnh nhân nặng, phải điều trị nội trú sẽ được sắp xếp vào phòng bệnh, bệnh nhân nhẹ sẽ được điều trị ban ngày hoặc chuyển tuyến.
Ngày 7.8, BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã đưa 20 giường vào hội trường bệnh viện làm khu điều trị ban ngày. Nếu bệnh nhân tiếp tục tăng, bệnh viện phải kê thêm giường điều trị ở hành lang giống như bệnh viện dã chiến và huy động thêm phòng của nhân viên y tế làm nơi điều trị cho bệnh nhân. Hiện BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã phải mượn gần 400 giường bệnh của một số công ty thiết bị y tế để tránh tình trạng bệnh nhân phải nằm ghép.
Tại BV Đống Đa (Hà Nội), một nửa số bệnh nhân đang điều trị nội trú mắc SXH. Các khoa phòng của bệnh viện phải dành đất kê giường cho bệnh nhân SXH. Tuy nhiên, dù tận dụng mọi khoảng trống, một số người vẫn phải ngồi ghế để truyền dịch. Bệnh viện có gần 350 giường thực kê nhưng 350 quá nửa trong đó là bệnh nhân mắc SXH. BV Thanh Nhàn - tuyến dưới - cũng đang phải gồng mình với bệnh SXH. BV đang điều trị cho khoảng hơn 500 bệnh nhân SXH. Tình trạng quá tải khiến bệnh viện phải dồn các khoa phòng để kê giường bệnh. Tình trạng nằm ghép là khó tránh khỏi vào thời điểm này.
Còn tại TPHCM, ghi nhận chiều ngày 8.8 tại khoa Sốt xuất huyết, Bệnh viện Nhi Đồng 1 có hơn 100 trẻ đang điều trị. Trong đó, hơn 45% là trẻ đến từ các tỉnh, thành khác. Bệnh nhân khá đông khiến bệnh viện rơi vào tình trạng quá tải. 2-3 bệnh nhi phải nằm chung 1 giường.
BS Nguyễn Minh Tuấn - Trưởng khoa Sốt xuất huyết - cho biết, hiện tại, khoa có một số bé bị sốc sốt xuất huyết khá nặng. Tình trạng nhập viện tăng cao khiến cho các bác sĩ làm việc cũng vất vả và áp lực hơn vì phải tăng cường lọc bệnh, dặn dò và theo dõi các ca nặng. Tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 TPHCM, từ đầu năm đến nay đã điều trị cho hơn 3.600 ca ngoại trú vì sốt xuất huyết, chỉ tháng 7 đã có 506 ca.
Bệnh viện Nhiệt Đới đã tiếp nhận 4.238 ca sốt xuất huyết đến từ các tỉnh, thành khác nhau. Khoa Hồi sức cấp cứu của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới cũng kín bệnh nhân, trong đó có nhiều bệnh nhân diễn biến nặng như sốc thoát huyết tương, xuất huyết nặng, suy đa tạng.
Đáng chú ý tại các bệnh viện ở TP. Hồ Chí Minh ghi nhận nhiều trường hợp cả gia đình cùng bị sốt xuất huyết hay trong một xóm có tới bốn người mắc bệnh. Trường hợp của bà N.T.H (ở Vĩnh Long) có 2 con cùng điều trị sốt xuất huyết tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 TPHCM cho biết: “Hai tháng trước, tôi bị sốt xuất huyết và điều trị ở Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới. Vừa xuất viện thì bé út 4 tuổi bị bệnh phải đưa lên Nhi Đồng 1 điều trị và bác sĩ cho xét nghiệm cũng bảo sốt xuất huyết. Thằng Út vừa xuất viện thì anh nó 10 tuổi lại bệnh, triệu chứng tương tự”.
Chỉ riêng Hà Nội, sau 8 năm địa phương lại trở thành điểm nóng của bệnh SXH. Tuần đầu tháng 8, Hà Nội ghi nhận đến hơn 2.700 bệnh nhân SXH. Từ đầu năm đến nay thành phố ghi nhận hơn 11.750 ca sốt xuất huyết, 6 ca tử vong. Năm nay, dịch SXH đến sớm hơn tại Hà Nội. Thường đỉnh dịch rơi vào tháng 9, nhưng ngay từ tháng 4 đã có SXH, tăng hơn so với cùng kỳ năm ngoái. SXH tập trung ở các quận nội thành, chiếm 90% số bệnh nhân, 40% người mắc SXH là học sinh và người lao động tự do, chủ yếu sống ở nhà trọ. Các chuyên gia nhận định, khả năng sốt xuất huyết bùng phát mạnh tại Hà Nội là rất lớn vì thời tiết mưa nắng thất thường và người dân ở nhiều nơi còn thờ ơ với dịch bệnh.
BS Nguyễn Trí Dũng - Trung tâm Y tế dự phòng TP. Hồ Chí Minh - cho biết, thời điểm hiện, bệnh sốt xuất huyết đang vào mùa và số ca tăng rất cao. Thống kê đến thời điểm đầu tháng 8, TP. Hồ Chí Minh ghi nhận hơn 11 ngàn ca bệnh, tăng 23% so với cùng kỳ. Đặc biệt, tốc độ gia tăng bệnh sốt xuất huyết trong tháng 7 tăng 46% so với tháng 6. Và trong các tháng tiếp theo, bệnh chưa “hứa hẹn” sẽ giảm nhiệt.
Hiện tại, toàn TP đã ghi nhận 4 ca tử vong vì sốt xuất huyết. Ổ dịch sốt xuất huyết TP. Hồ Chí Minh đang nằm ở một số vùng ven như quận Bình Tân, quận 12, huyện Hóc Môn, Bình Chánh - nơi có nhiều kênh rạch, ao tù nước đọng phát sinh loăng quăng, muỗi. Kỷ lục là tại quận Bình Tân, số ca mắc trong tháng 7 tăng 54% so với tháng trước.
Hiện cả nước đã ghi nhận 71.410 trường hợp mắc, 20 ca tử vong, số bệnh nhân SXH tăng 24% so với cùng kỳ năm 2016. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến yêu cầu cần “hạ hỏa” ngay dịch bệnh SXH, bởi đây là bệnh chữa được và dự phòng được, ngành y tế quyết tâm không để dịch lan rộng, không để xảy ra tử vong nhiều. Người đứng đầu ngành y tế yêu cầu các bệnh viện xử lý, phân loại bệnh nhân nặng, nhẹ để chuyển về các tuyến sao cho hợp lý, tránh tình trạng bệnh nhân đến khám là cho vào viện, nhận điều trị, cần họp lại phân tuyến, tập trung cứu chữa bệnh nặng, bệnh nhân nhẹ cho về tuyến dưới theo dõi.
Muỗi truyền bệnh SXH thường đốt vào ban ngày, từ 8-10 giờ. Bộ trưởng Bộ Y tế khuyến cáo, với người bệnh khi có các dấu hiệu như sốt, uống hạ sốt không giảm và sống trong vùng có dịch SXH cần đến cơ sở y tế gần nhất, để cứu chữa kịp thời, không xảy ra tử vong.
4. Không chỉ đi chậm so với sự phát triển của thế giới, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (GDPTTT), nếu chậm lại 1 năm như đề xuất mới đây của nhiều tổ chức, cá nhân, chúng ta sẽ có thể đánh mất niềm tin, tổn hại về cả kinh tế và xã hội. Chương trình giáo dục tổng thể chậm triển khai: Thiệt hại về tiền, lo chất lượng của chương trình và SGK mới (Báo Lao động 10/8).
Theo đúng tiến độ Nghị quyết 88/2014/QH13 ngày 28.11.2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, SGK phổ thông thì chương trình GDPT và sách giáo khoa (SGK) mới sẽ bắt đầu triển khai từ năm học 2018-2019 theo hình thức cuốn chiếu đối với mỗi cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông, có nghĩa chỉ chưa tới 1 năm nữa. Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, Ban soạn thảo chương trình mới chỉ vừa thông qua Chương trình GDPTTT chính thức, chương trình môn học vẫn đang được xây dựng. Nếu thực hiện đúng lộ trình theo Nghị quyết 88 và Quyết định 404/QĐ-TTg ngày 27.3.2015 của Chính phủ về phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, SGK phổ thông thì đã phải hoàn thành việc xây dựng, thẩm định, thực nghiệm và ban hành chương trình mới từ giai đoạn 1 (tháng 4.2015 - 6.2016).
Thời gian biên soạn, thẩm định, thực nghiệm, phê duyệt cho phép sử dụng và phát hành được ít nhất một bộ SGK mới của lớp 1, lớp 6, lớp 10 nằm ở giai đoạn 2 (tháng 7.2016 - 6.2018). Và từ năm học 2018-2019, bắt đầu triển khai áp dụng chương trình mới, SGK mới. Như vậy, có nghĩa là xét về mặt tiến độ thực hiện Quyết định 404, Bộ GDĐT đã thực hiện chậm hơn so với lộ trình gần 2 năm.
Trao đổi về vấn đề này, ông Phạm Tất Thắng - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội (sau đây gọi tắt là Uỷ ban) - cho hay: Nếu theo đúng lộ trình, thời gian còn lại nói là 12 tháng nhưng thực tế thì không còn nhiều như vậy. Trong khi vẫn còn nhiều công đoạn phải thực hiện: Thông qua chương trình từng môn học; biên soạn, thẩm định, thực nghiệm chương trình các môn học và hoạt động giáo dục; biên soạn, thẩm định, thực nghiệm các bộ SGK; bồi dưỡng, tập huấn giáo viên… Áp lực thời gian có thể sẽ ảnh hưởng nhiều tới chất lượng của chương trình và SGK mới. Chính vì vậy những băn khoăn về mặt thời gian được dư luận đặt ra là một băn khoăn có cơ sở.
Trên cơ sở đó, nhiều tổ chức, cá nhân đã đề xuất lùi thời gian áp dụng chương trình lại 1 năm để Bộ GDĐT có thời gian chuẩn bị kỹ càng. Tuy nhiên, nếu đề xuất này được thông qua, chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều tổn thất.
Theo chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long, tổng kinh phí thực hiện dự án Hỗ trợ đổi mới giáo dục phổ thông là 80 triệu USD, trong đó 77 triệu USD vốn vay ODA ưu đãi từ Ngân hàng Thế giới và 3 triệu USD vốn đối ứng của Việt Nam. Nếu chậm lại chắc chắn hiệu quả về mặt kinh tế cũng giảm sút.
Cũng theo ông Ngô Trí Long, càng đi sớm giai đoạn nào thì hội nhập của nền giáo dục, kinh tế sẽ càng tốt. Hoạt động đào tạo giáo dục của nước nhà càng có hiệu quả. “Thế giới đang phát triển từng ngày, từng giờ, thậm chí chạy đua từng giây một, vì thế chậm lại nền giáo dục hiện đại 1 năm sẽ gây tổn thất không hề nhỏ” - ông Long nói.
Nhìn về mặt chất lượng, việc chậm trễ ở một công đoạn nào đó sẽ kéo theo sự chậm trễ ở các công đoạn sau dẫn đến chất lượng cả dự án sẽ khó có thể đạt yêu cầu như kỳ vọng. Quan trọng hơn, việc thường xuyên chậm trễ và xin lùi các dự án, đặc biệt là các dự án về giáo dục, đã trở thành tiền lệ không tốt. Chúng ta sẽ đánh mất niềm tin với nhân dân, uy tín của quốc gia với cơ quan nước ngoài hỗ trợ thực hiện chương trình.
Từ thực tế trên, ông Long cho rằng: Bộ GDĐT cần phân tích và tìm ra nguyên nhân chậm do đâu, ai đảm nhận và biện pháp khắc phục như thế nào. Bộ GDĐT cũng cần nghiêm khắc kiểm điểm trách nhiệm của cá nhân có liên quan. Chủ trương của Đảng và Nhà nước, Quốc hội là thưởng, phạt cần nghiêm minh, lãnh trọng trách của Nhà nước, của quốc gia, toàn dân đã tín nhiệm giao phó thì phải theo kỷ cương. Chuyên gia Ngô Trí Long cũng nhắn nhủ, Bộ GDĐT cần nghiêm khắc nhìn nhận lại các bài học kinh nghiệm về sự thất bại của các dự án cũ để có những cố gắng thực hiện cho đúng tiến độ và vẫn đảm bảo chất lượng.
Bàn về vấn đề này, một nguyên lãnh đạo Bộ GDĐT chia sẻ: Dù đã có thời gian nghiên cứu, thực hiện và xây dựng chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã rất lâu nhưng thực chất chương trình đang chưa đạt được đúng yêu cầu, tinh thần của Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4.11.2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã được đưa ra tại Hội nghị Trung ương 8 khoá XI đề ra. Chương trình đang né tránh việc phân luồng học sinh ở THCS; chưa thể hiện rõ tính hướng nghiệp ở THPT. Cách xây dựng hiện nay mới chỉ như một phân ban, phân nhóm thôi.
Trước việc chậm trễ trong thực hiện chương trình GDPTTT, hàng chục nghìn học sinh vào đầu cấp năm học 2018-2019 sẽ tiếp tục phải học một chương trình giáo dục lạc hậu với nhiều bất cập. Tổn thất này ai sẽ phải là người chịu trách nhiệm?
MTC


Xem tin theo ngày: 
ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH