< Trở về giao diện Mobile

Điểm báo tuần từ ngày 14 tháng 8 đến ngày 21 tháng 8 năm 2017

VẤN ĐỀ NỔI BẬT
1. Mới đây, tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) lần thứ 2 - năm 2017 đã diễn ra với sự có mặt của gần 1.000 doanh nhân, hiệp hội doanh nghiệp, chuyên gia, tổ chức trong và ngoài nước. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo một số bộ, ngành đã tham dự. Nỗ lực vì một Chính phủ kiến tạo (Báo Năng lượng mới 15/8).
Trước khi bắt đầu cuộc đối thoại Ban Tổ chức đã đưa ra một câu hỏi khảo sát đối với Khối Doanh nghiệp tư nhân: “Trong thông điệp của Chính phủ là Chính phủ liêm chính, Chính phủ kiến tạo và Chính phủ hành động, bạn chọn thông điệp nào?”. Kết quả, các doanh nghiệp tư nhân có tới 65% chọn tiêu chí Chính phủ hành động, 24% mong muốn Chính phủ liêm chính và 11% chọn tiêu chí Chính phủ kiến tạo.
Thực ra, khái niệm Chính phủ kiến tạo không mới mà trên thế giới và ở Việt Nam cũng đã nói, nhưng bây giờ được nhiều người quan tâm và nhấn mạnh nhiều hơn. Đặc biệt, trong thông điệp đầu năm 2014 của Chính phủ đã chuyển tải rất cụ thể về vai trò của Nhà nước kiến tạo phát triển. Dưới đây xin trích đăng vài đoạn:
“Nhà nước phải làm tốt chức năng kiến tạo phát triển. Nhà nước không làm thay dân, mà phải tập trung xây dựng khuôn khổ thể chế phù hợp và tạo điều kiện cần thiết để mọi người phát huy năng lực và sức sáng tạo vì lợi ích của chính mình và đóng góp cho xã hội...”.
“Nhà nước phải tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị trường; kiểm soát chặt chẽ và xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp cũng như những cơ chế chính sách dẫn đến bất bình đẳng trong cạnh tranh. Pháp luật và cơ chế chính sách phải tạo thuận lợi nhất cho mọi người dân và doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Tài nguyên, nguồn lực của quốc gia phải được phân bổ tới những chủ thể có năng lực sử dụng mang lại hiệu quả cao nhất cho đất nước”.
“Nhà nước phải có chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển. Phải chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ đất nước”.
“Nhà nước phải xây dựng cho được bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực và tính chuyên nghiệp cao...”.
Thông điệp ấy đã trải qua gần 4 năm, thế nhưng đến nay, những mong muốn ấy vẫn ngổn ngang, dang dở... Chẳng nói đâu xa, chỉ cần soi xét một mục tiêu “Nhà nước phải xây dựng cho được bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả” thì đã thấy vô cùng nan giải rồi.
Chẳng hạn, mới đây Đoàn giám sát của Quốc hội về việc thực hiện chính sách pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2016 cho biết, xu hướng nâng cấp vụ lên cục diễn ra nhanh ở nhiều bộ, có đến 29 cục được thành lập trong thời gian này, trong đó có những Bộ tăng nhiều như Bộ Công an tăng 7 cục, Bộ Tư pháp tăng 4 cục, Bộ Y tế tăng 3 cục…
Tình trạng lạm phát “cấp phó” vượt quá quy định của Luật Tổ chức Chính phủ đang ngày càng phổ biến. Tỷ lệ công chức giữ chức danh lãnh đạo từ cấp phó phòng trở lên/công chức ở Bộ Công Thương là 3/4; Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ là 3/5. Ở Hà Giang là 3/4, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Kiên Giang là 1/2…
Và một điều dễ hiểu rằng, một bộ máy hành chính càng cồng kềnh, nhiều tầng nấc bao nhiêu thì tình trạng “hành” doanh nghiệp càng có cơ hội xảy ra bấy nhiêu. Chẳng thế, tại cuộc họp mới đây, khi biết còn tồn tại tới 5.700 giấy phép con, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: “Giấy phép kinh doanh rất nhiều, rất nhiều, người ta kêu nhiều lắm, cần rà lại. Đây cũng là khâu phát sinh nhiều vấn đề phức tạp”.
Chính vì thế mà các doanh nghiệp nhấn mạnh thông điệp Chính phủ hành động cũng là điều không có gì lạ.
Một số chuyên gia cho rằng, nếu hiểu kiến tạo là tạo môi trường thuận lợi nhất cho doanh nghiệp và người dân từ khởi sự đến làm ăn thuận lợi, thì có lẽ chưa đầy đủ. Nội hàm kiến tạo của mỗi tổ chức có nhiều chiều cạnh, đủ năng lực, đủ minh bạch, đủ khả năng giải trình và có đủ khả năng tạo ra tầm nhìn tốt và chính sách tốt. Chính sách tốt gồm từ tư duy, tầm nhìn, thiết kế thực thi, và như vậy phải rất chuyên nghiệp...
2. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 89-QĐ/TW về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp; Quy định số 90-QĐ/TW về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Với những quy chuẩn về cán bộ lãnh đạo vừa mang tính định tính, vừa mang tính định lượng, Quy định sẽ dễ dàng hơn trong việc đánh giá cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo. Công cụ đánh giá cán bộ (Báo Đại đoàn kết 16/8).
Trong nhiều cuộc tiếp xúc cử tri, cũng như trong nhiều hội nghị lớn khi nói về công tác cán bộ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn trăn trở trước việc một bộ phận cán bộ đảng viên sa sút phẩm chất, thiếu ý chí chiến đấu.
Tại Hội nghị toàn quốc về công tác dân vận do Ban Dân vận Trung ương tổ chức tại Hà Nội ngày 27/5/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức có quyền, có những biểu hiện sa sút phẩm chất, sống xa dân, vô trách nhiệm với dân. Nhiều cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành giữ tác phong quan liêu, gia trưởng, độc đoán, thậm chí trù dập, ức hiếp quần chúng. Một số hiện tượng tham nhũng, đặc quyền đặc lợi trong Đảng và trong các cơ quan nhà nước không được đấu tranh kiên quyết và xử lý nghiêm minh”.
Từ đó, ông cho rằng, “những hành động đó tuy không phải là phổ biến nhưng rất nghiêm trọng, nó làm tổn thương tình cảm và niềm tin của dân đối với Đảng”.
Và cũng chính vì thế mà hơn lúc nào hết, thời gian gần đây, Đảng đã đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Đã có những kết quả ban đầu; cũng đã có một số đảng viên giữ cương vị lãnh đạo ở nhiều cấp khi đang đương chức hay nghỉ hưu phải chịu kỷ luật Đảng.
Điều đau xót ấy chả ai muốn; nhưng, nói như Tổng Bí thư là: “Kỷ luật một người để cứu muôn người”; nên dù đau xót mấy cũng phải làm. Xét cho cùng, kỷ luật cũng chỉ là bước cuối cùng khi mọi sự đã rồi và là lúc chúng ta đã mất cán bộ do quản không chặt và do chính cán bộ lãnh đạo ấy không tự tu dưỡng, rèn luyện.
Có lẽ, cũng vì lý do này mà Bộ Chính trị ban hành Quy định số 89 và 90 trong đó đề ra những khung tiêu chuẩn cụ thể về chức danh lãnh đạo quản lý các cấp; đặc biệt là chức danh lãnh đạo cấp cao. Việc ấy nếu thoạt nghe có vẻ là không cần thiết vì khi bổ nhiệm đã có những thang bậc tiêu chuẩn khá cụ thể. Vấn đề là ở chỗ bằng cách này hay cách khác đã có sự lách luật trong quá trình ứng cử; trong kê khai.
Liệu có phải những trường hợp kê khai sai là do quá tin đồng chí của mình hay không thể giám sát được. Có lẽ có cả 2 nguyên nhân kể trên. Nhưng, nếu làm chặt chẽ; có tiêu chuẩn rõ ràng thì dân cũng dễ giám sát; mà cán bộ khi kê khai cũng không dám làm sai; người thẩm tra dù có định làm ngơ cũng khó. Việc ra đời 2 quyết định kể trên chính là một bước để công khai hóa trong cử tri và nhân dân về công tác cán bộ của Đảng, để dân có điều kiện giám sát. Bên cạnh đó, sự ra đời của 2 Quy định kể trên cũng sẽ góp phần đáng kể giúp Đảng, giúp Nhà nước và nhân dân kiểm soát quyền lực đối với các cán bộ giữ vị trí lãnh đạo.
Tại Quy định số 90-QĐ/TW, Bộ Chính trị nêu rõ tiêu chuẩn chung cán bộ diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, của quốc gia - dân tộc và nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu lý tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Ngoài ra, còn những tiêu chí khác cũng rất đáng lưu tâm như: Mẫu mực về phẩm chất đạo đức; sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, trong sáng, giản dị, bao dung; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Tuyệt đối không tham vọng quyền lực, có nhiệt huyết và trách nhiệm cao với công việc; là trung tâm đoàn kết, gương mẫu về mọi mặt. Không tham nhũng, cơ hội, vụ lợi và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện ”tự diễn biến”, ’’tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Rồi, cán bộ cấp cao phải chỉ đạo quyết liệt chống tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, cửa quyền và lợi ích nhóm; tuyệt đối không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; công khai, minh bạch, khách quan, dân chủ trong công tác cán bộ.
Về năng lực và uy tín, để đáp ứng với đòi hỏi cao từ thực tiễn, Quy định cũng nêu tiêu chí cán bộ cần có khả năng phân tích và dự báo tốt… Kịp thời phát hiện những mâu thuẫn, thách thức, thời cơ, vận hội, vấn đề mới, vấn đề khó, hạn chế, yếu kém trong thực tiễn; chủ động đề xuất những nhiệm vụ, giải pháp có tính khả thi và hiệu quả.
Là người có nhiều năm nghiên cứu công tác xây dựng Đảng, cũng là người đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến bộ 10 tiêu chí đạo đức đảng viên, nhà báo Nhị Lê- Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản  đặt vấn đề: Quyền lực giao cho người không có đạo đức thì không khác gì thả con thú hoang vào thế giới. Ở một Đảng cầm quyền, sự say mê quyền lực mà quyền lực không có đạo đức, thì nó nguy hiểm đến mức nào. Cho nên Đại hội XII nêu vấn đề xây dựng Đảng về mặt đạo đức; đồng thời Hội nghị Trung ương 4 khóa XII chỉ ra những biểu hiện cụ thể của sự suy thoái càng cho thấy tính cấp bách của công tác xây dựng Đảng.
“Nếu chúng ta không làm tốt 2 quyết sách của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII thì không ai dám chắc vị thế uy tín của Đảng được bảo đảm đến đâu? Và năng lực, uy tín của Đảng trước vận mệnh dân tộc, đến một mức độ nào đó, sẽ hết sức nguy hiểm. Sự suy thoái đến độ nào đó thì Đảng không chỉ khó giữ được vị thế là người lãnh đạo, đồng thời là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; mà nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, càng khó có thể là đứa con nòi của nhân dân lao động, kể cả về mặt đạo lý cũng như pháp lý. Mà sự tiêu vong về đạo lý sẽ dẫn đến sự tiêu vong về pháp lý”- ông Nhị Lê nói.
Nói thế để thấy, đã rất cần thiết trong việc ban hành Quy định đánh giá cán bộ quản lý và cũng đã đến lúc coi đây là một bộ công cụ để góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng vững mạnh, trong sạch hơn.
3. Trao đổi với Báo Lao Động về Quyết định số 90-QĐ/TƯ về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện BCH T.Ư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành mới đây, ông Nguyễn Túc - Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam - nhấn mạnh: Đây chính là một quyết định để lấy lại niềm tin cho nhân dân đối với Đảng. Quyết định để lấy lại niềm tin cho nhân dân đối với Đảng (Báo Lao động 16/8).
Quy định đã nêu rõ tiêu chuẩn của người cán bộ phải mẫu mực về phẩm chất đạo đức; sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, trong sáng, giản dị, bao dung; cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Tuyệt đối không tham vọng quyền lực, có nhiệt huyết và trách nhiệm cao trong công việc. Không tham nhũng, cơ hội, vụ lợi và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, quy định cũng nhấn mạnh “Tuyệt đối không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi...
5. Cách đây tròn 72 năm, trong mùa thu lịch sử, ngày 19-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, cả dân tộc triệu người như một, với khí thế như sấm rung chớp giật, nhất tề đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, lật đổ chế độ phong kiến, đập tan xiềng xích áp bức của chế độ thực dân, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Cách mạng Tháng Tám và hành trình đổi mới (Báo Nhân dân 19/8).
Với thành công vang dội đó, chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới cũng có thể tự hào rằng: Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi với hơn năm nghìn đảng viên đã lãnh đạo cách mạng thành công, nắm chính quyền toàn quốc, khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Ðông - Nam Á, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Sự kiện trọng đại này là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc ta.
Cách mạng Tháng Tám thành công là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống yêu nước nồng nàn, bản lĩnh, trí tuệ và ý chí quật cường của dân tộc ta được kế thừa, phát huy lên tầm cao mới trong cuộc đấu tranh do Ðảng ta tổ chức và lãnh đạo; là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, sự lãnh đạo sáng suốt, tầm nhìn chiến lược, sự nhạy bén tạo thời cơ và chớp thời cơ nghìn năm có một, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Ðảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Từ ngày Ðảng ta ra đời (3-2-1930), dưới sự lãnh đạo của Ðảng, đất nước ta, dân tộc ta đã giành được những thắng lợi vẻ vang, lập nên những kỳ tích trong suốt chiều dài lịch sử: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Chiến thắng Ðiện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975 thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền nam thống nhất đất nước, non sông về một dải; công cuộc Ðổi mới đã đạt được thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vượt qua đói nghèo, vững bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hơn bảy mươi năm đã trôi qua, những bài học quý báu của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Ðặc biệt là bài học về công tác tư tưởng của Ðảng ta tạo nên sự thống nhất nhận thức và hành động của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên cơ sở một đường lối chính trị đúng đắn và tinh thần tự lực, tự cường, độc lập, tự chủ và sáng tạo. Bài học của thành công chính là ở chỗ Ðảng tạo được niềm tin tuyệt đối vào lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, mọi đảng viên đều tạo được niềm tin về sự hy sinh, đạo đức trong sáng của mình đối với quần chúng - không có niềm tin đó thì cách mạng không thể thành công.
72 năm qua, thực hiện lời thề thiêng liêng tại Lễ Tuyên ngôn độc lập "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập", nhân dân ta đã đổ biết bao công sức, trí tuệ, hy sinh biết bao xương máu để giữ vững thành quả và thực hiện các mục tiêu cao cả của Cách mạng Tháng Tám: Ðộc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Từ một nước nô lệ, Việt Nam đã trở thành một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không ngừng vươn lên trong xây dựng, phát triển, đổi mới và hội nhập quốc tế. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã nỗ lực xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập quốc tế. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia không ngừng tăng lên, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục phát triển với những triển vọng tốt đẹp. Thắng lợi vĩ đại và những thành tựu to lớn của nhân dân ta trong 72 năm qua được nhân dân thế giới, bạn bè quốc tế cảm phục, đánh giá cao, trở thành hành trang quý báu của dân tộc ta trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước hiện nay bên cạnh những thời cơ, thuận lợi đang có nhiều diễn biến rất phức tạp, thay đổi nhanh chóng. Hòa bình, hợp tác phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng còn tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định rất khó lường. Ðối với nước ta, các thế lực thù địch chống phá quyết liệt bằng chiến lược "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" hết sức thâm độc, nguy hiểm. Bốn nguy cơ mà Ðảng ta chỉ ra vẫn tồn tại.
Hơn bao giờ hết, tình hình nêu trên đòi hỏi toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết, thống nhất, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Ðảng, tận dụng tốt thời cơ, thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chúng ta tiếp tục quán triệt, nắm vững, dồn sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XII của Ðảng. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Ðảng thật sự trong sạch, vững mạnh; triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII); tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, "lợi ích nhóm"... phát huy sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
II. KINH TẾ - PHÁT TRIỂN
1. Thông điệp “giảm chi phí cho doanh nghiệp” được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhắc lại nhiều lần trong các cuộc gặp gỡ doanh nghiệp gần đây. Tại cuộc họp Thường trực Chính phủ, Thủ tướng nhấn mạnh “Chủ trương 1, biện pháp 10, quyết tâm 20 thì mới thúc đẩy được công việc đang ở phía trước” đã và đang cụ thể hoá bằng hành động. Thông điệp và hành động của Chính phủ (Báo Diễn đàn doanh nghiệp 16/8).
Những ngày gần đây, cho rằng vị trí đặt trạm không hợp lý và thu phí cao, nhiều tài xế đã phản đối bằng cách dùng tiền lẻ từ mệnh giá từ 200 đồng đến 1.000 đồng, bỏ vào chai nhựa, túi ni lông để mua vé khi qua trạm thu phí BOT Cai Lậy (Tiền Giang) dẫn tới tình trạng vỡ trận và phải “xả trạm”.
Đây là một ví dụ điển hình, không chỉ là hiện tượng mà nó phần nào phản ánh thực trạng đang đè nặng lên DN ngành vận tải nói riêng và “áp lực “ chi phí đối với các doanh nghiệp ngày càng cao nói chung.
Nhìn rộng hơn, Báo cáo “Khảo sát về Môi trường kinh doanh” của Ngân hàng Thế giới năm 2017 cho thấy, chi phí kinh doanh ở Việt Nam về cơ bản ở mức cao so với các nước trong cùng khu vực. Riêng chi phí nộp thuế cao nhất so với ASEAN 4, ở mức 39,1% lợi nhuận, cao hơn 2 lần so với Singapore.
Không chỉ là các chi phí chính thức, theo báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2016 (PCI 2016) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố dựa trên khảo sát với hơn 10.000 doanh nghiệp cho thấy, chi phí không chính thức giai đoạn 2014-2016 chưa có dấu hiệu cải thiện so với mốc năm 2006.
Năm 2016, trung bình có khoảng 66% doanh nghiệp cho biết, thường xuyên chi trả các khoản không chính thức, cao hơn 12-15 điểm phần trăm so với giai đoạn 2008-2013. Có 9-11% doanh nghiệp tham gia điều tra từ năm 2014-2016 cho biết, các khoản chi cho riêng mục này chiếm tới hơn 10% tổng doanh thu của họ, cao hơn hẳn mức 6-8% giai đoạn 5 năm trước đó. Ngoài ra, doanh nghiệp cho rằng, tình trạng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp vẫn phổ biến. Chỉ tiêu này dù được cải thiện trong hai năm qua (giảm từ 65% năm 2013-2014 xuống còn 58% năm 2016) nhưng vẫn cao so với kết quả điều tra các năm trước đó (2006-2012).
Khảo sát chỉ số Niềm tin doanh nhân (CEO.CI) năm 2017 lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam của diễn đàn cho thấy, có tới 44% doanh nghiệp đã từng lỡ cơ hội vì rào cản pháp lý và hạn chế thị trường. Các rào cản trói buộc họ đã được xác định từ lâu như có quá nhiều giấy phép con; thủ tục hành chính phiền hà; khó tiếp cận đất đai, vốn; chính sách thuế, hải quan, bảo hiểm...
Hệ quả, theo ghi nhận của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm nay, cứ 3 doanh nghiệp thành lập mới thì có tới hai doanh nghiệp rời thị trường hoặc ngừng hoạt động.
Trước thực trạng trên, mới đây Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì rà soát các điều kiện kinh doanh theo nguyên tắc thị trường cạnh tranh của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế gồm các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới như Mỹ, Canada và các nước Tây Âu), đề xuất bãi bỏ các điều kiện hạn chế cạnh tranh thị trường, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước tháng 12 năm 2017.
Thực tế, cuối tháng 7 vừa qua, xét đề nghị của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) gửi các báo cáo rà soát mới đây về điều kiện kinh doanh tới Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp.
Sau chỉ đạo của Thủ tướng, một số bộ: Công Thương, Tài chính, Xây dựng đã tiến hành rà soát các điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực của mình.
Tuy nhiên, Thủ tướng cho rằng: “Giấy phép kinh doanh rất nhiều, rất nhiều, người ta kêu nhiều lắm, cần rà lại. Đây cũng là khâu phát sinh nhiều vấn đề phức tạp. Đặc biệt chi phí cấp giấy phép con, các bộ với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chưa có nhiều bằng chứng cho thấy đã giảm…”.
Nhận diện rõ rào cản, chỉ mặt đặt tên các “chi phí” chính thức và không chính thức đang cản trở sự phát triển của doanh nghiệp thông qua những con số cụ thể để đưa ra giải pháp phù hợp, nhưng Thủ tướng lưu ý: Chủ trương 1, biện pháp 10, quyết tâm 20 thì mới thúc đẩy được công việc đang ở phía trước.
2. Đã bắt đầu có chỉ đạo của Chính phủ về việc tăng tiêu dùng hộ gia đình bằng cách kích cầu tiêu dùng nội địa, tạo niềm tin thị trường, từ đó thúc đẩy tăng trưởng. Đây có thể được coi là đòn bẩy cho tăng trưởng GDP. “Bàn đạp” cho tăng trưởng GDP (Báo Đầu tư 18/8).
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2016, tiêu dùng cuối cùng đóng góp 5,29 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung (năm ngoái, tăng trưởng GDP của toàn nền kinh tế là 6,21%).
Nói vậy để thấy, tiêu dùng cuối cùng, đặc biệt là tiêu dùng hộ gia đình, thực sự là đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế.
Liên quan vấn đề này, trong một cuộc hội thảo mới đây, ông Jonathan Dunn, Trưởng đại diện Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam đã nhấn mạnh, tỷ lệ dịch vụ và tiêu dùng ngày càng dẫn dắt tăng trưởng kinh tế của các nước. Chẳng hạn, Trung Quốc hiện không còn tập trung vào đầu tư, mà chú trọng nhiều vào tiêu dùng.
Trong khi đó, các chuyên gia kinh tế cho rằng, trong 3 thập kỷ Đổi mới vừa qua, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào 3 trụ cột quan trọng là xuất nhập khẩu, đầu tư kết cấu hạ tầng và tiêu dùng. Nhưng trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế cho đầu tư, cán cân xuất nhập khẩu nghiêng về nhập siêu, thì cần phải phát huy “nền tảng” tiêu dùng nội địa.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của cổ phần hóa, thoái vốn DNNN giai đoạn 2016-2020 đã được Chính phủ xác định. Theo đó, để hoàn thành các mục tiêu này, một khối lượng lớn công việc đã và đang chờ đợi bởi các DNNN được cổ phần hóa, thoái vốn trong giai đoạn này hầu hết là các tập đoàn, tổng công ty lớn. Cổ phần hóa vì sao chậm? Nhà nước 'rút tay' ra khỏi nhiều lĩnh vực (Báo Hải Quan 17/8).
Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí phân loại DNNN, DN có vốn nhà nước và Danh mục DNNN thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016 – 2020 được ban hành vào những ngày cuối cùng của năm 2016 và có hiệu lực từ tháng 2/2017. Quyết định này được xem như là tin vui đối với nền kinh tế sau khi trải qua giai đoạn 2011-2015 với nhiều kết quả đạt được thì năm 2016, tiến trình cổ phần hóa DNNN bắt đầu chậm lại. Đáng ghi nhận là Quyết định 58/2016/QĐ-TTg không chỉ đưa ra 4 danh mục phân loại DN với các tiêu chí một cách chung chung, mà đã điểm mặt chỉ tên 240 DN cụ thể. Theo đó, trong giai đoạn 2016-2020 sẽ cổ phần hóa 137 DNNN bao gồm cả các tập đoàn, tổng công ty lớn như: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1), Tổng công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2), Tổng công ty Thuốc lá... và đến cuối năm 2020, sẽ chỉ còn 103 DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Trong số 137 DN sẽ phải hoàn thành cổ phần hóa chậm nhất vào cuối năm 2020, bên cạnh 4 DN Nhà nước nắm giữ trên 65% vốn điều lệ, 27 DN Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 65% vốn điều lệ sau cổ phần hóa thì đáng chú ý nhất là danh mục thứ tư - DN Nhà nước chỉ còn nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ với 106 DN. Được biết, có những DN tỷ lệ vốn điều lệ mà Nhà nước nắm giữ sau 2020 là 0%. Việc thoái vốn tại 106 DN này được xem là cơ hội lớn để các thành phần kinh tế tư nhân được tham gia đầu tư, kiểm soát các DNNN theo đúng quy luật của kinh tế thị trường.
Nhưng cần phải lưu ý, theo danh sách các DN sẽ cổ phần hóa từ nay tới 2020, có thể thấy đa phần trong số đó là những tập đoàn, tổng công ty lớn. Đơn cử như 4 DN tiến hành cổ phần hóa và Nhà nước nắm giữ trên 65% vốn điều lệ có Công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), Tổng công ty Thăm dò và Khai thác dầu khí (thuộc PVN), Công ty TNHH MTV Khoáng sản. Chưa hết, 27 DN mà Nhà nước sẽ nắm 50-65% vốn điều lệ có các ông lớn như VNPT, MobiFone, Tập đoàn Hóa chất, Tổng công ty Thuốc lá, Tổng công ty Cà phê, Tổng công ty Điện lực miền Bắc, Trung, Nam (thuộc EVN) hay Điện lực Hà Nội, điện lực TP.HCM, Vinafood 1, Vinafood 2,…
Cổ phần hóa là điều không bàn cãi, song rõ ràng, danh sách cổ phần hóa với một loạt “ông lớn” hiện đang nắm giữ nguồn lực khổng lồ của Nhà nước cũng cho thấy, chưa tính tới những trở lực liên quan đến lợi ích nhóm, chỉ riêng một khối lượng công việc rất lớn sẽ phải giải quyết từ nay đến 2020 để đảm bảo hoàn thành việc cổ phần hóa các DN này cũng đã là một thách thức cho việc thực hiện mục tiêu cổ phần hóa.
Băn khoăn về con số 103 DNNN giữ lại sau 2020, trong đó 70% là DNNN của địa phương là quá nhiều, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhấn mạnh, Nhà nước nên thu hẹp lại những lĩnh vực tham gia, chỉ nên tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, những lĩnh vực mà các DN khác không sẵn sàng đầu tư, còn những lĩnh vực thuần túy thương mại, kinh doanh thì nên trả lại cho thị trường. Chuyên gia Phạm Chi Lan cũng cho rằng, việc cổ phần hóa DNNN thành công hay không phụ thuộc vào quyết tâm chính trị, năng lực thực hiện của bộ máy thực hiện và điều này nằm gọn trong tầm tay của Nhà nước, bởi sự cản trở tiến trình này chỉ xuất phát từ chính chủ sở hữu DNNN và bản thân DNNN mà thôi.
Liên quan đến vấn đề này, mới đây, trong báo cáo về tái cơ cấu DNNN năm 2016 và quý I/2017, Bộ Tài chính cũng nhận định, tiến độ sắp xếp, cổ phần hoá còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu và kế hoạch đề ra do các đơn vị đang thực hiện xây dựng lộ trình, kế hoạch cổ phần hóa, thoái vốn theo Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời đối tượng cổ phần hóa, thoái vốn trong giai đoạn này chủ yếu là các DN có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành nghề, tài chính phức tạp nên cần có nhiều thời gian chuẩn bị, xử lý, kiểm toán nhà nước trước khi công bố giá trị DN. Mặt khác, việc thực hiện cổ phần hóa các DN có quy mô vốn lớn cần sự tham gia của nhiều nhà đầu tư lớn, có tiềm lực tài chính và năng lực quản trị, đầu tư tốt nên cần nhiều thời gian để chuẩn bị.
Để thực hiện mục tiêu cổ phần hóa các DN lớn, cuối tháng 5 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 707/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2016 - 2020” với nhiều mục tiêu được đề ra. Trong đó, mục tiêu quan trọng là sẽ thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước để DNNN có cơ cấu hợp lý hơn, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt; cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; quốc phòng, an ninh; lĩnh vực độc quyền tự nhiên; ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội mà DN thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư.
Tại đề án này, bên cạnh tập trung xử lý dứt điểm các tồn tại, yếu kém của DNNN và DN có vốn nhà nước phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo công khai, minh bạch, theo cơ chế thị trường, Chính phủ cũng đề ra mục tiêu hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát DNNN và vốn, tài sản Nhà nước đầu tư tại DN; sớm tách chức năng đại diện chủ sở hữu vốn của Nhà nước tại DNNN và DN có vốn nhà nước với chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương.
Đánh giá về triển vọng hoàn thành kế hoạch 2016-2020, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cho rằng, Quyết định 58/2016/QĐ-TTg đã đưa ra nhiều giải pháp để đảm bảo tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn. Với 137 DN phải cổ phần hóa từ nay đến 2020, các bộ, ngành, địa phương có chức năng quản lý DN nào thì phải có nhiệm vụ lập phương án cổ phần hóa để cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các giải pháp đã mềm hơn khi đã bỏ một loạt các giới hạn về cổ đông chiến lược, không nhất thiết phải bán cổ phần ngay lần đầu, không nhất thiết phải bán đúng giá quy định mà có thể giảm giá… “Tất cả những điều đó cho thấy, có thể cổ phần chưa bán hết nhưng cổ phần hóa sẽ được triển khai ở mức độ khác nhau”, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong nói.
Còn ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương từng cho rằng, về số lượng, hoàn toàn có khả năng nhanh chóng chuyển 137 DNNN thành công ty cổ phần trong giai đoạn 2016-2020. Cơ sở được ông Hiếu dẫn chứng chính là việc từ 2003-2006, cả nước đã từng cổ phần hóa gần 2.700 DN, đạt trung bình 670 DN/năm. Sự phát triển của thị trường chứng khoán, việc đổi mới cơ chế cổ phần hóa, đồng thời, sự quyết tâm hoàn thành kế hoạch và chỉ đạo quyết liệt từ phía Chính phủ đã và sẽ tác động rất lớn đến kết quả thực hiện. Song ông Hiếu cũng nhấn mạnh, vấn đề quan trọng không nằm ở số lượng DN chuyển đổi, mà là đóng góp thực sự tích cực và hiệu quả của cổ phần hóa và cải cách DNNN vào tái cơ cấu kinh tế cũng như sự phát triển chung của đất nước. Do đó, trong giai đoạn 2016-2020 cần có các giải pháp căn bản hơn như cải thiện quản trị DNNN theo chuẩn mực quốc tế, áp đặt kỷ luật thị trường và kỷ luật tài chính đối với DNNN; thay đổi căn bản cơ chế quản lý của chủ sở hữu nhà nước, loại bỏ những ưu đãi, lợi thế của DNNN…
4. Thuế giá trị gia tăng sẽ đẩy giá nhà lên cao ngất ngưởng khiến giấc mơ mua nhà xa dần. Tăng sốc thuế VAT: Bão giá sẽ ập đến (Báo Pháp luật Việt Nam 19/8).
Bộ Tài chính đã đề xuất tăng thuế giá trị gia tăng (VAT) từ 10% lên 12% kể từ đầu năm 2019. Bộ này cũng loại một số hàng hóa thiết yếu khỏi nhóm ưu đãi thuế VAT, đồng thời đưa hàng loạt nhóm hàng hóa, dịch vụ lâu nay không thuộc đối tượng chịu thuế VAT nay phải gánh thêm.
Điều này cũng đồng nghĩa hàng hóa sẽ tăng giá, người dân sẽ thắt lưng buộc bụng, chi tiêu ít hơn. Doanh nghiệp (DN) sẽ khó tiêu thụ sản phẩm, lợi nhuận giảm nên nộp thuế cũng giảm theo.
Đối với nhiều DN, việc tăng thuế cũng vấp phải sự phản đối vì ảnh hưởng của nó rất lớn lên chi phí đầu vào lẫn sản xuất, kinh doanh. Ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội DN Logistics Việt Nam, phân tích việc tăng thuế VAT đồng nghĩa với chi phí đầu vào của DN tăng lên.
Hai ngày sau đề xuất tăng thuế VAT từ 10% lên 12% và đánh thuế VAT với hoạt động chuyển quyền sử dụng đất của Bộ Tài chính, ngày 17-8, Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA) đã có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan. Văn bản này nêu rõ: Thuế VAT tác động trực tiếp đến người tiêu dùng và hàng chục triệu người sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.
“Việc đề xuất tăng thuế VAT lên 12% theo phương án của Bộ Tài chính sẽ dẫn đến mặt bằng giá nguyên nhiên vật liệu, nhận thầu thi công, nhân công... tăng lên. Người tiêu dùng khi mua bất động sản sẽ phải oằn lưng chịu đựng giá nhà tăng cao” - HoREA nhấn mạnh.
Từ góc nhìn DN, ông Nguyễn Minh Khang, Quyền Tổng Giám đốc Tập đoàn LDG, tính toán khi thuế VAT bị đẩy lên sẽ tác động tiêu cực đến thị trường bất động sản. Ông Khang ví dụ: Nếu có 10 khách hàng muốn mua trong bối cảnh hiện tại thì khi thuế VAT tăng lên 12%, chắc chắn số lượng giao dịch thành công sẽ giảm xuống còn 6-7 người.
Hơn nữa, nếu tăng thuế VAT vào đầu năm 2019 có thể cũng sẽ là thời điểm thị trường bất động sản đang trên đà đi xuống. Cộng hưởng những yếu tố này thì chắc chắn bức tranh của thị trường bất động sản sẽ “khó mà tươi sáng được”.
III. VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Tại cuộc họp về an toàn giao thông mới đây, một lần nữa đại diện cơ quan Công an Thành phố đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét “dời” Ga Hà Nội ra khỏi nội đô và để Ga Hà Nội hiện tại là địa điểm trung chuyển các tuyến đường sắt nội đô. Để có góc nhìn khách quan về vấn đề này, LĐTĐ đã ghi lại một số ý kiến của các chuyên gia. Đề xuất điều chỉnh chức năng Ga Hà Nội: Hợp lý nhưng phải hợp quy hoạch (Báo lao động thủ đô 17/8).
Ga Hà Nội không chỉ thực hiện chức năng vận tải liên tỉnh mà còn vận tải quốc tế. Với việc ngày càng đổi mới công nghệ, hạ tầng cơ sở và đặc biệt là rút ngắn số giờ chạy tàu Bắc - Nam cũng như thời gian từ Ga Hà Nội đến các địa điểm Hải Phòng, Lào Cai… nên đã thu hút được lượng khách rất đông.
Đi kèm đó, tần suất số lần tàu đi và đến Ga Hà Nội cũng lớn. Chính điều này, ảnh hưởng không nhỏ đến giao thông trong các tuyến đô thị của Thành phố; đặc biệt là giờ cao điểm. Để góp phần hạn chế ùn tắc giao thông, một lần nữa đại diện Công an TP Hà Nội đã đề xuất cơ quan có thẩm quyền nên nghiên cứu di dời tuyến đường sắt liên tỉnh ra khỏi khu vực nội đô.
Trao đổi về vấn đề này, TS. KTS Đào Ngọc Nghiêm – Nguyên kiến trúc sư Trưởng TP Hà Nội cho rằng, không có chuyện di dời Ga Hà Nội, đề xuất mới hiện đang được thảo luận đó là quy hoạch Ga Hà Nội từ ga trung tâm điều chuyển thành ga hành khách và ga trung chuyển. Việc làm này là nhằm để thay đổi chức năng, giảm bớt áp lực giao thông, giảm bớt tập trung dân số.
Tuy nhiên, TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm cũng lưu ý muốn làm như vậy trước hết phải tập trung xây dựng các ga đầu mối là: Ngọc Hồi, Giáp Bát, Gia Lâm… “Bất kỳ ở đâu, trong khu đô thị lịch sử, đô thị trung tâm đều cần thiết phải có ga trung chuyển, muốn giảm chức năng thì phải xây dựng được các ga đầu mối. Di dời đi đâu thì đã có quy hoạch. Song mấu chốt ở chỗ muốn gì thì muốn phải đầu tư ga mới thì mới di dời được ga cũ” – TS – KTS Đào Ngọc Nghiêm nhấn mạnh.
Ngoài ra, TS Đào Ngọc Nghiêm cũng lưu ý thêm, bản thân Ga Hà Nội là một công trình kiến trúc có giá trị lịch sử. Việc bảo tồn những công trình được xây dựng trước năm 1954 như nhà Ga Hà Nội cũng đã được quy định rõ trong Luật Thủ đô. Do đó, bất kỳ đề xuất hoặc kế hoạch nào liên quan đến việc này cũng đều phải tôn trọng các quy định trong Luật.
Đồng quan điểm với KTS Đào Ngọc Nghiêm, chuyên gia giao thông Nguyễn Xuân Thủy cũng cho rằng, muốn chuyển chức năng Ga Hà Nội cũng phải dựa trên kết quả nghiên cứu và tính toán cụ thể.
2. Bộ Tài chính vừa công bố Dự án Luật sửa 5 Luật Thuế trong đó có Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) nhằm thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách thuế TNCN. Qua đó, góp phần cơ cấu lại nguồn thu ngân sách nhà nước; xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, phù hợp với thông lệ quốc tế. Sửa đổi Luật Thuế thu nhập cá nhân: Đơn giản, hợp lý, tạo thuận lợi cho người nộp thuế (Tạp chí tài chính 17/8).
Bộ Tài chính cho biết, qua thực tiễn triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN thời gian qua cho thấy, một số quy định tại Luật thuế TNCN hiện hành còn phức tạp, phát sinh thủ tục hành chính, chưa tạo thuận lợi cho người nộp thuế và khó khăn cho công tác quản lý thuế. Chưa có chính sách thuế phù hợp nhằm thu hút cá nhân là nhân lực công nghệ cao; chính sách thuế đối với cá nhân có thu nhập từ trúng thưởng...
Theo đó, Bộ Tài chính đề xuất nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thuế TNCN theo hướng mở rộng cơ sở thuế và xác định rõ thu nhập chịu thuế; sửa đổi, bổ sung phương pháp tính thuế đối với từng khoản thu nhập theo hướng đơn giản, phù hợp với thông lệ quốc tế để nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế và tạo thuận lợi cho công tác quản lý thuế.
Đồng thời, điều chỉnh số lượng thuế suất phù hợp với thu nhập chịu thuế và đối tượng nộp thuế; cơ bản thống nhất mức thuế suất đối với thu nhập cùng loại hoạt động hoặc hoạt động tương tự đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế giữa thể nhân và pháp nhân (doanh nghiệp); điều chỉnh mức thuế suất hợp lý nhằm động viên, khuyến khích cá nhân làm giàu hợp pháp.
Một trong những nội dung được Bộ Tài chính đề xuất là bổ sung quy định không thu thuế TNCN đối với thu nhập từ lợi tức cổ phần của thành viên Hợp tác xã nông nghiệp, cá nhân là nông dân ký kết hợp đồng với doanh nghiệp tham gia “Cánh đồng lớn” nhằm khuyến khích cá nhân hợp tác, liên kết sản xuất với doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy phát triển nền sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung, hiện đại, bền vững.
Bên cạnh đó, bổ sung quy định thu nhập từ bản quyền bao gồm cả thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng tài nguyên internet theo quy định của Luật Viễn thông. Qua đó, pháp điển hóa quy định thu thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng tài nguyên internet phù hợp với tính chất khoản thu nhập, phù hợp với pháp luật chuyên ngành và thực tế.
Trong Dự án Luật sửa đổi 5 Luật, Bộ Tài chính cũng đề xuất miễn thuế TNCN đối với một số đối tượng đặc biệt. Trong đó, chính sách ưu đãi miễn thuế TNCN đối với chuyên gia nước ngoài thực hiện chương trình, dự án ODA, viện trợ phi chính phủ nước ngoài vẫn cần thiết để khuyến khích, thu hút nguồn vốn vay và viện trợ nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức quốc tế hoạt động tại Việt Nam. Miễn thuế TNCN đối với nhân viên Việt Nam làm việc cho cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc để bình đẳng về nghĩa vụ thuế vì khoản lương mà nhân viên Việt Nam nhận được đã thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập theo quy định của Liên hợp quốc.
Dự thảo Luật cũng đề xuất chính sách giảm thuế TNCN đối với nhân lực công nghệ cao nhằm thu hút các cá nhân có trình độ cao tham gia thực hiện trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin hoặc các lĩnh vực đang ưu tiên phát triển như nông nghiệp, chế biến nông sản. Theo đó, Bộ Tài chính trình Chính phủ cho bổ sung quy định giảm 50% thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của các cá nhân là nhân lực công nghệ cao làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin, nông nghiệp, chế biến nông sản thuộc: dự án ứng dụng công nghệ cao, dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.
Bộ Tài chính cũng trình Chính phủ cho sửa đổi quy định sửa đổi mức thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhân (cư trú và không cư trú) ở mức 1% trên giá chuyển nhượng. Đồng thời, tại dự thảo Luật cũng rà soát, bỏ quy định kỳ tính thuế theo năm đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán tại Điều 7 Luật thuế TNCN để phù hợp với quy định thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế theo từng lần chuyển nhượng, không quyết toán lại theo năm theo quy định tại khoản 5, khoản 7 Điều 2 Luật số 71/2014/QH13.
4. Sử dụng mạng xã hội để mở rộng và kết nối thông tin giữa các cơ quan chính quyền với người dân đang là xu hướng được nhiều quốc gia áp dụng. Thời gian gần đây tại Việt Nam, sự xuất hiện của những đường dây nóng về y tế, giáo dục, giao thông, cải cách hành chính,... hay trang mạng xã hội của một số cơ quan, tổ chức nhà nước nhằm tiếp nhận phản hồi, góp ý của người dân đã được dư luận đánh giá cao. Chính từ kênh kết nối này, nhiều sự việc được chính quyền biết đến và giải quyết kịp thời, hợp lòng dân. Sử dụng mạng xã hội giúp chính quyền gần dân (Báo Nhân dân 18/8).
Một chính quyền gần dân, thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của nhân dân không chỉ là mong muốn của toàn xã hội mà còn là mục tiêu của các cấp chính quyền tại nhiều quốc gia. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, các giao thức kết nối cũng liên tục phát triển, không chỉ tạo điều kiện để mỗi cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mà còn là cơ hội để chính quyền có thêm kênh tiếp xúc với người dân. Vai trò của mạng xã hội đã và đang được các cơ quan, tổ chức nhà nước tại nhiều quốc gia sử dụng một cách có hiệu quả, giúp thu hẹp khoảng cách với người dân. Ở nước ta, một số cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, cũng đang nỗ lực kết nối với người dân thông qua mạng xã hội. Từ tháng 10-2015, Chính phủ đã lập hai tài khoản Facebook là “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” với kỳ vọng giúp người dân tiếp cận kịp thời các văn bản, quy phạm pháp luật mới ban hành; thông tin thời sự chính trị, kinh tế - xã hội,...; hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Việc làm này không chỉ đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân, mà còn khuyến khích người dân đồng hành cùng Chính phủ, góp phần thiết thực định hướng dư luận trên mạng xã hội. Đây cũng được coi là kênh giám sát dư luận xã hội hiệu quả, từ đó các cơ quan ban hành chính sách lắng nghe và có những điều chỉnh phù hợp với thực tế đời sống, nguyện vọng của nhân dân.
Không chỉ Chính phủ nỗ lực mở rộng các kênh giao tiếp, đưa thông tin đến người dân, mà hiện nay nhiều cấp, ngành ở địa phương cũng tận dụng những ưu thế của mạng xã hội để giải quyết công việc và kết nối thông tin đến mọi tầng lớp nhân dân. Đầu tháng 7 vừa qua, UBND tỉnh Đồng Nai đã hợp tác với Zalo (mạng xã hội ứng dụng nhắn tin và gọi điện miễn phí hoạt động trên nền tảng di động) trên cơ sở khai thác những tiện ích của mạng này để triển khai thêm kênh giải quyết thủ tục hành chính cho người dân như: tra cứu tiến độ giải quyết hồ sơ, gửi tin nhắn thông báo tiến độ giải quyết hồ sơ, biên nhận điện tử ZMS, thu thập ý kiến phản hồi của công dân… Trước đó, từ năm 2015, ngành y tế đã sử dụng mạng xã hội nhằm hỗ trợ thông tin cho người dân về vắc-xin. Cũng trong năm 2015, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định về việc cung cấp thông tin chỉ đạo điều hành của cơ quan này đến các tổ chức, doanh nghiệp và người dân trên trang mạng xã hội Facebook có tên “Thủ đô Hà Nội - Việt Nam”. Tại TP. Hồ Chí Minh, từ tháng 6-2016, Công ty Điện lực thành phố đã triển khai một số dịch vụ khách hàng qua tiện ích Zalo, được khách hàng đánh giá cao. Cuối năm 2016, Đà Nẵng mở trang Facebook “Cảnh sát giao thông TP Đà Nẵng” để người dân và khách du lịch có thể tương tác, cung cấp thông tin, gửi kiến nghị, hình ảnh vi phạm về trật tự, an toàn giao thông cũng như những bất cập trong tổ chức giao thông trên địa bàn. Đây cũng là kênh thông tin giám sát tác phong và đạo đức công vụ của cảnh sát giao thông Đà Nẵng. Kênh thông tin này đã phát huy hiệu quả, là một minh chứng thiết thực cho việc các cấp chính quyền nên chủ động tương tác, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân qua mạng xã hội...
Không chỉ các cơ quan công quyền, với các cấp lãnh đạo, mạng xã hội cũng đang được coi là kênh thông tin hữu ích, giúp tiếp nhận và giải quyết phản ánh, khiếu nại của người dân nhanh chóng và hiệu quả hơn. Từ thực tế tiếp cận người dân qua cách thức mới mẻ này, ông Nguyễn Văn Dương, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp nhận xét: Hàng trăm ý kiến của người dân phản ánh đều là những vấn đề thiết thực, gần gũi với đời sống người dân như: vé phà qua sông, ô nhiễm môi trường... Quan trọng hơn, những vấn đề này không thấy được trong các báo cáo. Chia sẻ nêu trên khiến chúng ta liên hệ sự việc mới xảy ra ở phường Văn Miếu (quận Đống Đa, Hà Nội). Ngay sau khi nhận được phản ánh về việc người dân bị gây khó dễ khi đến xin giấy khai tử cho bố đẻ đăng tải trên mạng xã hội, các cơ quan chức năng đã vào cuộc, giải quyết kịp thời, lấy lại lòng tin của người dân vào chính quyền. Mới đây nhất là việc một Phó Chủ tịch UBND xã ở Hải Dương “bút phê” không đúng quy định vào lý lịch của người đi xin việc, sau khi được phản ánh trên mạng xã hội cũng đã được cơ quan chức năng xử lý kịp thời. Theo luật sư Đỗ Ngọc Thịnh, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, những sự việc này cho thấy việc sử dụng và phát huy mặt tích cực của mạng xã hội góp phần tạo dựng cầu nối giữa người dân với các cơ quan Nhà nước và là công cụ hữu ích, hiệu quả trong việc xây dựng một Chính phủ gần dân. Trước những chuyển động tích cực trong sự kết hợp giữa chính quyền và mạng xã hội, TS Huỳnh Văn Thông (Trưởng khoa Báo chí và Truyền thông, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) nhận xét: “Đó dù mới chỉ là những bước đi ban đầu của việc triển khai cải cách hành chính theo hướng hiện đại hóa, nhưng chắc chắn sẽ thúc đẩy những bước đi tiếp theo dựa trên nền tảng mới của internet (in-tơ-nét). Chúng ta cần những bước đi này để có thể sớm chứng kiến Chính phủ điện tử Việt Nam thành hiện thực”.
Trên thế giới, website chính phủ của nhiều quốc gia luôn hiện diện một “thành phần” quan trọng trên trang chủ là nút bấm kết nối đến các mạng xã hội như Facebook, Twitter... “Thành phần” không thể thiếu này góp phần lan tỏa rộng rãi các chính sách của chính phủ đến người dân, đồng thời cũng là cầu nối giúp tiếp nhận phản hồi của người dân với chính quyền. Hiện nay, Singapore (Xin-ga-po) được ghi nhận là quốc gia đầu tiên sử dụng mạng Workplace của Facebook trong lĩnh vực dịch vụ công. Theo đó, hơn 15 cơ quan và hơn 5.300 công chức tại quốc gia này đã được kết nối trên mạng xã hội Workplace. Theo Giám đốc Cục Dịch vụ công Xin-ga-po, việc sử dụng Workplace giúp giảm lượng email nội bộ, thay vào đó các lãnh đạo cấp cao sẽ đăng các thông báo quan trọng trên Workplace, tăng khả năng tương tác giữa lãnh đạo và nhân viên. Tại Hàn Quốc, ứng dụng chat Kakao Talk đã được chính quyền, cũng như toàn bộ hệ thống bảo tàng, bưu điện,... để kết nối với người dân. Tại nhiều quốc gia khác như Pháp, Mỹ, Ấn Độ,... việc sử dụng mạng xã hội để kết nối với người dân cũng được chính phủ khai thác một cách có hiệu quả.
Hiện nay, với 49 triệu người sử dụng internet, trong đó có 38 triệu người sử dụng mạng xã hội, Việt Nam đang đứng thứ 16 trong số 20 quốc gia có số người sử dụng internet cao nhất thế giới. Đây là một con số ấn tượng và được dự báo sẽ tiếp tục tăng, nhất là khi Chính phủ và doanh nghiệp cam kết đầu tư phát triển mạnh mẽ hạ tầng công nghệ thông tin. Số người sử dụng mạng xã hội tăng nhanh chóng và ngày càng trẻ hóa vừa là thuận lợi nhưng cũng là thách thức đối với chính quyền nhằm kết nối gần gũi hơn với người dân. Một trong những thách thức lớn nhất là việc các fanpage của các cơ quan chính quyền bị các đối tượng xấu làm giả mạo, gây nhiễu thông tin, kích động người dân. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, chỉ trong ba tháng đầu năm 2017 đã phát hiện 130 tài khoản giả mạo và 58 trang phản động, chống phá Nhà nước, kích động nhân dân phản đối chính sách Nhà nước. Vì thế, cần quản lý hiệu quả, nghiêm túc các trang fanpage này, dẹp bỏ những trang giả mạo, bảo vệ những trang thông tin chính thống. Thực tế cho thấy một chính sách mới được ban hành chỉ đạt được hiệu quả nếu đáp ứng đòi hỏi của thực tế và phù hợp lòng dân. Vì thế, nỗ lực xây dựng một chính quyền gần dân càng trở nên cần thiết bởi khi người dân có được niềm tin vào hệ thống công quyền, khoảng cách giữa chính quyền và người dân mới từng bước được xóa bỏ, góp phần tạo nên sự đồng thuận trong xã hội, tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội.
 
 
MTC


Xem tin theo ngày: 
ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH