< Trở về giao diện Mobile

Điểm báo tuần từ ngày 22 tháng 8 đến ngày 29 tháng 8 năm 2017

. VẤN ĐỀ NỔI BẬT
1. Mô hình đặc khu kinh tế đã được các nước trên thế giới áp dụng từ vài chục năm trước, Việt Nam với các đặc khu kinh tế "sinh sau đẻ muộn" phải đưa ra cơ chế thế nào để đủ tươi mới, hấp dẫn, cạnh tranh với các đặc khu khác trên thế giới, đó là câu chuyện không dễ. Cơ chế vượt trội cho đặc khu kinh tế: "Dọn tổ" thế nào để "phượng hoàng đẻ trứng"? (Báo Đấu thầu 24/8).
Bộ Kế hoạch và Đầu tư kỳ vọng, với cú hích này, từ năm 2020 trở đi 3 đặc khu kinh tế Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc sẽ có tính lan tỏa, đóng góp tăng GDP địa phương (GRDP) hàng tỷ USD mỗi năm.
Theo PGS. TS Trần Kim Chung - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, để “làm tổ cho phượng hoàng đến đẻ trứng”, Nhà nước phải “mở” hết tất cả những gì có thể về cơ chế, chính sách. Khi mà cơ chế ở một quốc gia còn nhiều hạn chế, chưa thể cởi mở ở khắp mọi nơi thì phải có một nơi thực sự thông thoáng.
Để kích thích việc giao thương ở đặc khu kinh tế, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng, hàng hóa khi đưa vào đây chưa phải đóng thuế, thậm chí không cần cả thủ tục hải quan. Đến lúc hàng hóa bán vào nội địa mới cần đến những thủ tục này.
Theo PGS.TS Trần Kim Chung, để có nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực này, Nhà nước nên tạo ra cơ chế thông thoáng bằng cách, nguồn thu từ đặc khu được bao nhiêu, nên sử dụng chính nó làm vốn mồi để xây dựng hạ tầng chứ không phải nộp về cho ngân sách Nhà nước.
Đã là đặc khu, phải có những ưu đãi ở mức táo bạo, cho họ cái quyền được tự quyết để mảnh đất này thực sự trở thành nơi kích thích cho sự phát triển. Nếu vẫn còn những e dè thì “hòa vào nồi cháo chung nhà nghèo”, tất cả cùng kéo thụt lùi, không bao giờ có sự phát triển đột phá cả” - PGS.TS Trần Kim Chung khẳng định.
2. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Nguyễn Chí Dũng khẳng định cho biết sẽ xây dựng thể chế cho các đặc khu theo hướng tăng thẩm quyền, tăng tính chịu trách nhiệm với nhiều cơ chế ưu đãi vượt trội...  Đặc khu được dành cơ chế vượt trội, thuê đất 99 năm (Báo Tuổi trẻ 24/8).
Theo Bộ trưởng, việc khai thác các tiềm năng tĩnh của đất nước như tài nguyên thiên nhiên, lợi thế tự nhiên, lao động giá rẻ đã dần tới hạn, cần chuyển sang phát huy các tiềm năng động thông qua cải cách thể chế, sáng tạo, tiềm năng trí tuệ để tạo ra năng suất, hiệu quả kinh tế cao hơn. Vì vậy, việc xây dựng mô hình đặc khu với các cơ chế, chính sách về hành chính, kinh tế đột phá, vượt trội, có đủ sức hợp tác và cạnh tranh quốc tế nhằm tạo động lực phát triển mới, có tác động lan tỏa tích cực ở Việt Nam là hết sức cần thiết, cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Chủ trương xây dựng đặc khu đã được đề cập tại Hiến pháp năm 2013, văn kiện Theo quy định của Hiến pháp, đặc khu có thể trực thuộc trung ương hoặc trực thuộc tỉnh. Qua thảo luận, Bộ Chính trị đã đồng ý các đặc khu trực thuộc tỉnh. Các đặc khu kinh tế này được thành lập dựa trên các khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc hiện do địa phương quản lý.
Người đứng đầu chính quyền sẽ quyết định đầu tư nếu dự án đó phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Vì vậy người đứng đầu đặc khu đòi hỏi phải có năng lực, kinh nghiệm điều hành, đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư quốc tế và do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm.
Đối với vấn đề nhất thể hóa chức danh, một số ý kiến thảo luận cũng ủng hộ phương án bí thư đặc khu kiêm trưởng cơ quan hành chính đặc khu để trao quyền cho người đứng đầu quyết định các nhiệm vụ, quyền hạn và chịu trách nhiệm hoàn toàn với quyết định của mình. Tuy nhiên, việc thực hiện nhất thể hóa chức danh sẽ thực hiện theo quy định riêng của Đảng, không nằm trong quy định của luật này.
Hoạt động đầu tư kinh doanh được đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước với nước ngoài. Dự thảo luật cũng cho phép nhà đầu tư được lựa chọn luật nước ngoài để điều chỉnh hợp đồng đầu tư, thương mại, dân sự có yếu tố nước ngoài; hoặc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn giải quyết tranh chấp tại tòa án nước ngoài có thẩm quyền.
Đặc khu cũng sẽ áp dụng các chính sách mở cửa thị trường, như mở cửa lĩnh vực phân phối cho một số sản phẩm chưa được quy định trong WTO và một số hiệp định thương mại tự do.
Đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng và UBND cấp tỉnh; các dự án PPP và dự án đầu tư ra nước ngoài sẽ không cần phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư cũng như cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
3. Hội nghị Trung ương 6, Khóa XII sẽ thảo luận và dự kiến ban hành Nghị quyết về việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Những lực cản trong tiến trình cải cách tổ chức bộ máy nhà nước sẽ được đặt lên bàn nghị sự của Ban Chấp hành Trung ương để có những quyết sách tạo đột phá mạnh mẽ trong thời gian tới. Cải cách tổ chức bộ máy nhà nước - bước đột phá cần thiết: Kỳ vọng quyết sách từ Trung ương (Báo Người đại biểu nhân dân 26/8).
Bài viết thông tin cho biết: Cải cách tổ chức bộ máy nhà nước và tinh giản biên chế là vấn đề không đơn giản, không thể giao cho từng cơ quan, tổ chức thực hiện. Cũng không thể xem đây là việc riêng của Nhà nước mà phải đặt trong tổng thể hệ thống chính trị, cải cách tổ chức bộ máy phải gắn liền với cải cách thể chế, cải cách kinh tế và đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng. Có rất nhiều việc phải làm nhưng tại Hội nghị Trung ương 6, Khóa XII tới đây, theo Trưởng ban Công tác đại biểu, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Phó Trưởng đoàn giám sát của QH Trần Văn Túy, Trung ương cần xem xét, thảo luận và có kết luận về 5 nội dung then chốt.
Nhấn mạnh vai trò, thẩm quyền của cơ quan lập pháp đối với cải cách tổ chức, bộ máy, ông Trần Văn Túy cho rằng, chủ trương cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước phải được thể chế hóa đầy đủ trong các đạo luật về tổ chức bộ máy và các luật chuyên ngành, đặc biệt là các văn bản dưới luật để tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho quá trình triển khai thực hiện. QH phải dứt khoát nói “không” với những dự luật chuyên ngành có cài cắm các quy định về chức năng, nhiệm vụ để “mở đường” cho việc thành lập các cơ quan, tổ chức mới. Các cơ quan của QH phải giám sát chặt chẽ việc ban hành các văn bản dưới luật, bảo đảm không trái với tinh thần của luật.
Một việc QH cần làm ngay sau giám sát chuyên đề lần này là phải tiến hành rà soát tổng thể tất cả các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước, đặc biệt là về phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp. Nếu không thể chế hóa mạch lạc và chặt chẽ các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước ngay trong hệ thống pháp luật thì chắc chắn sẽ còn tiếp diễn tình trạng “trên có chính sách nào, dưới có ngay đối sách đó”. Cứ nói là mềm dẻo, linh hoạt nhưng thực chất là không chấp hành chủ trương của cấp trên như không được thành lập thêm các phòng, quy định số lượng cấp phó, tách chức năng đại diện chủ sở hữu tại các doanh nghiệp nhà nước của các bộ, ngành, UBND tỉnh vừa qua… Vì thế, thậm chí, cần tính đến việc ban hành một đạo luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.
Tiếp đến là phải rà soát tổng thể bộ máy, xây dựng chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong hệ thống chính trị, trên cơ sở đó, kiên trì sắp xếp lại theo nguyên tắc một cơ quan, một người có thể đảm nhận nhiều việc nhưng một việc chỉ giao cho một cơ quan hoặc một người chủ trì và chịu trách nhiệm chính; giảm các tầng nấc trung gian và sự chồng chéo trong tổ chức bộ máy, cắt giảm những đầu mối không cần thiết.
Phải kiên quyết tách chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành với chức năng sản xuất kinh doanh của các DNNN và thực hiện dịch vụ công của các tổ chức sự nghiệp công lập - nơi chiếm tới 46% tổng số biên chế hiện nay. Đây là nội dung cốt lõi nhưng cũng chính là thách thức lớn nhất trong suốt giai đoạn cải cách vừa qua. Đồng thời, phải đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các đơn vị sự nghiệp công lập, xã hội hóa dịch vụ công theo nguyên tắc những việc doanh nghiệp, người dân làm được và làm tốt hơn thì Nhà nước không làm.
Phân công, phân cấp tối đa giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và giữa Trung ương với từng cấp chính quyền ở địa phương là nhiệm vụ trọng tâm thứ hai. Theo đó, phải xác định rõ việc gì Trung ương làm, việc gì địa phương làm. Những việc địa phương có thể làm được thì Trung ương dứt khoát không làm thay, không can thiệp. Điều này không chỉ giúp chính quyền địa phương năng động, chủ động và sáng tạo hơn trong điều hành, quản lý mà còn là cơ sở để nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước ở cả Trung ương và địa phương.
II. KINH TẾ - PHÁT TRIỂN
1. Tăng mạnh nhất trong 9 năm trở lại đây, thị trường chứng khoán đã có nhiều phiên bùng nổ. Tuy nhiên, vốn là kênh đầu tư "nhạy cảm" trước những tin đồn thiếu tích cực, có lúc thị trường đã không tránh khỏi những phiên "đỏ sàn". Song, sự thông minh của nhà đầu tư đã sớm đưa thị trường trở lại ổn định, để thị trường chứng khoán Việt Nam được nhắc đến như một cái tên đáng chú ý trên bản đồ chứng khoán thế giới... Thị trường chứng khoán đã ổn định (Báo Hà Nội mới 22/8).
Trải qua những giai đoạn thăng trầm và phải chờ đến 9 năm, thị trường chứng khoán Việt Nam mới có một cuộc đổi thay ngoạn mục. Với mức vốn hóa khá lớn, lượng giao dịch nhiều phiên tăng đột biến, kể từ đầu năm 2017 đến nay, thị trường thực sự tăng trưởng mạnh. Nhưng, sự đi lên ổn định cũng không giúp thị trường tránh được những tin đồn.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia tài chính, thị trường chứng khoán vẫn đón nhận những diễn biến tích cực, dòng vốn của khối nhà đầu tư "ngoại" tiếp tục đổ về với khối lượng lớn cho thấy họ vẫn tin vào sự tăng trưởng của thị trường. Tính từ đầu năm đến nay, khối này đã “mua ròng” khoảng nửa tỷ USD cổ phiếu và khoảng 700 triệu USD trái phiếu. Riêng trong nửa đầu năm, khối ngoại “mua ròng” 92 phiên, trong khi chỉ “bán ròng” 29 phiên. Trong tháng 7, mặc dù không còn nhiều phiên “mua ròng”, nhưng giao dịch của khối ngoại vẫn sôi động, tạo tâm lý hứng khởi cho toàn thị trường. Nếu tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng được “nới” lên 18-20%, các chỉ số chứng khoán có cơ hội thiết lập những ngưỡng cao mới.
Rõ ràng, bên cạnh những tin đồn thất thiệt, những thông tin tích cực cũng đã mang đến cơ hội cho thị trường. Cùng với đó, thị trường liên tục đón những mã cổ phiếu mới, giúp “giỏ” hàng hóa ngày càng phong phú, nhà đầu tư có thêm nhiều lựa chọn.
2. Với những bất cập của hệ thống điều kiện kinh doanh đang làm giảm sức cạnh tranh của cộng đồng doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung, Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa trình Chính phủ kiến nghị bãi bỏ hơn 2.000 điều kiện kinh doanh. Kiến nghị cắt hơn 2.000 điều kiện kinh doanh kìm hãm nền kinh tế (Báo Đầu tư 23/8).
Theo đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần trong 302 điều kiện về tài chính; toàn bộ 85 điều kiện kinh doanh về địa điểm; bãi bỏ toàn bộ 1.336 điều kiện về năng lực sản xuất; toàn bộ 127 điều kiện về phương thức kinh doanh, toàn bộ 80 điều kiện về quy hoạch…Tổng cộng, các yêu cầu, điều kiện đề nghị bãi bỏ lên tới con số hơn 2.000 và có thể chưa phải là số chốt. Lý do là, đợt rà soát này chưa tính tới các quy chuẩn, tiêu chuẩn có nội dung điều kiện kinh doanh và chưa tính đến nội dung của điều kiện kinh doanh liên quan đến các bộ, ngành không quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện cũng như chưa nhắc tới các nội dung không phù hợp khác chưa được điểm danh.
Đây không phải lần đầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải báo cáo Thủ tướng về việc chưa có sự thay đổi về tư duy và nhận thức về vai trò và ý nghĩa của điều kiện kinh doanh. Trong đợt rà soát hệ thống quy định về điều kiện kinh doanh được cho là lớn nhất từ trước tới nay vào năm 2016, để thực hiện Luật Đầu tư, vấn đề này được cho là nguyên nhân hàng đầu khiến các khiếm khuyết của quy định về điều kiện kinh doanh chưa được xử lý.
Nhưng lần này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình một hiện trạng thực sự đáng quan ngại. Các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh hiện nay về cơ bản cũng giống như các điều kiện kinh doanh đã được ban hành cách đây nhiều năm. Cơ quan tham mưu, soạn thảo chưa mạnh dạn tìm tòi sáng kiến và chuyển sang áp dụng các biện pháp quản lý khác hiệu quả hơn, phù hợp hơn với sự phát triển của xã hội, khoa học - công nghệ để thay thế các quy định “truyền thống” về điều kiện kinh doanh.
3. Theo đề xuất của Bộ Tài chính, doanh nghiệp (DN) siêu nhỏ (tổng doanh thu năm dưới 3 tỷ đồng) sẽ được áp thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 15%. Giảm thuế cho DN nhỏ: Chỉ mang ý nghĩa tinh thần, nếu… (Báo Người đại biểu nhân dân 24/8).
DN nhỏ và vừa có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người, đồng thời có tổng doanh thu năm từ 3 - 50 tỷ đồng được áp thuế suất 17%; thay vì mức thuế 20% như hiện hành. Vậy, việc giảm thuế này đã phù hợp?
Phương án giảm thuế thu nhập cho DN nhỏ và vừa của Bộ Tài chính là tín hiệu rất tốt nhằm hỗ trợ, giảm bớt khó khăn cho DN. Chính sách này rất quan trọng với sự phát triển của DN cả trước mắt và lâu dài. Nhưng giảm cụ thể như thế nào cần cân nhắc kỹ trên cơ sở phân tích chi phí của DN.
Ưu đãi cho các DNNVV rất cần thiết nhưng phải đồng bộ. Theo đó, ngoài giảm thuế phải có chính sách khác để DN tăng trưởng, phát triển, có lãi. Chỉ khi DN có lãi nhiều thì chính sách thuế mới càng có ý nghĩa. Nếu chỉ giảm thuế TNDN sẽ chỉ mang tính động viên, khích lệ mà thôi. Cụ thể, cái mà DNNVV đang rất cần hiện nay là được tạo điều kiện về đất đai; mặt bằng sản xuất, kinh doanh; cải cách thủ tục hành chính; đặc biệt là khả năng tiếp cận vốn, chủ yếu là vốn trung và dài hạn.
Hiện, nhu cầu về vốn của DNNVV rất lớn, trong khi chỉ khoảng 30% tiếp cận được. Do đó, giảm thuế TNDN thôi chưa đủ, điều quan trọng là phải mở chính sách tiếp cận vốn. Theo đó, ngân hàng cần tính đến phương án “trứng bỏ nhiều rổ” thay vì chỉ tập trung cho khối DN lớn vay. Điều này sẽ có tính bền vững hơn đối với cả ngân hàng lẫn DN. Khung pháp lý hiện đã đầy đủ trong việc cho vay tín chấp, nhưng các ngân hàng vẫn còn thận trọng vì lo ngại về những rủi ro của hình thức này.
Vì thế, chính sách cũng cần thay đổi theo hướng nếu như việc cho vay tín chấp đối với DNNVV được thực hiện đúng theo các quy định, trong trường hợp có rủi ro mà không chứng minh được cán bộ tín dụng tư lợi thì không nên đặt vấn đề hình sự. Bên cạnh đó, cần tạo môi trường kinh doanh thực sự lành mạnh, tức là phải cải cách thủ tục hành chính để bảo đảm tính cạnh tranh sòng phẳng, chứ không phải theo cách chộp giật hay dựa vào các quan hệ ngầm để giải quyết các vấn đề kinh doanh.
4. Báo cáo mới đây của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tính chung trong 8 tháng năm 2017 tổng vốn FDI đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần là 23,36 tỷ USD, tăng 45,1% so với cùng kỳ năm 2016. Đây là những con số rất phấn khởi, cho thấy sự khởi sắc của nền kinh tế trong tương lai gần. Dòng chảy FDI (Báo Đại đoàn kết 24/8).
Cụ thể, báo cáo cho biết, tính đến ngày 20/8/2017, cả nước có 1.624 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 13,45 tỷ USD, tăng 37,4% so với cùng kỳ năm 2016. Báo cáo cũng cho biết, ước tính đến ngày 20/8/2017, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 10,3 tỷ USD, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2016.
Theo giới chuyên gia kinh tế, đây là thời kỳ thu hút dòng vốn FDI rất tích cực của Việt Nam. Giới quan sát nước ngoài bình luận, điều đó cho thấy “sức hút và sự thuyết phục” của một chính phủ hành động, chính phủ kiến tạo, chính phủ xác định luôn rộng cửa đối với nhà đầu tư đến từ nước ngoài. Như người đứng đầu Chính phủ- Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc từng nói: Thắng lợi của nhà đầu tư cũng là thắng lợi của Việt Nam.
Trước đó, khi tổng kết FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2017, giới chuyên gia cũng đã đưa ra những nhận định lạc quan, bất chấp những cảnh báo về nguy cơ sụt giảm của nguồn vốn FDI khi Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP.
Kết quả thực tế cho thấy môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam vẫn đang hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. PGS.TS Đinh Trọng Thịnh- Trưởng Bộ môn Quản trị tài chính quốc tế, Khoa Tài chính quốc tế (Học viện Tài chính) nhận xét, điều đó khách quan cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang phát triển tốt và được các nhà đầu tư trên thế giới đánh giá là một trong những quốc gia có sự phát triển nhanh nhất khu vực.
Bài viết nhấn mạnh: Việc Việt Nam nỗ lực và kiên quyết cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, giảm các thủ tục hành chính đã được các nhà đầu tư nước ngoài thừa nhận. Từ đó đã dẫn tới những bài toán kinh tế cụ thể thông qua đầu tư.
Tuy nhiên, bài viết cũng đưa ra cảnh báo, việc thu hút được FDI trong bối cảnh kinh tế thế giới có những khó khăn đã là một thành công, nhưng thành công đó chỉ thực sự vững chắc, là bàn đạp để bước những bước dài rộng tới tương lai lại phải là dòng vốn ấy đến từ đâu, đầu tư vào lĩnh vực gì. Việc tái cấu trúc sản xuất nông nghiệp, thường được gọi là “chính sách tam nông” đã được xác định và đẩy mạnh, nhưng vẫn thiếu lực. Số “ông lớn” trong nước đầu tư vào nông nghiệp vẫn đếm trên đầu ngón tay, cho dù nhiều chính sách ưu đãi của Chính phủ đã đưa ra.
III. VĂN HÓA - XÃ HỘI:
1. Tại hội nghị trực tuyến tổng kết năm học 2016-2017 và triển khai nhiệm vụ năm học 2017-2018 do Bộ GD&ĐT tổ chức mới đây, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Mạnh Hùng đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế của giáo dục đại học thời gian qua, trong đó có việc thiếu minh bạch thông tin về các điều kiện đảm bảo chất lượng, công bố chuẩn đầu ra của các trường còn mang tính hình thức, chưa được xem là cam kết của trường đối với người học. Minh bạch thông tin đại học (Báo Đại đoàn kết 23/8).
Nhiều ý kiến cho rằng, đến năm 2018, Bộ GD&ĐT chính thức bỏ điểm sàn ĐH, CĐ (trừ các trường khối ngành sư phạm), người học biết dựa vào đâu để lựa chọn trường ĐH nếu không phải là những thông tin về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, học phí, chuẩn đầu ra và tỷ lệ sinh viên sau khi ra trường có việc làm? Yêu cầu công khai, minh bạch những thông tin này hơn lúc nào hết đang được đặt ra rốt ráo.
Theo TS Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Trung tâm Đánh giá kỹ năng nghề và quan hệ doanh nghiệp trường ĐH Công nghiệp Hà Nội, việc khảo sát sau đó công khai số liệu trên website của nhà trường không chỉ giúp người học có cái nhìn chính xác về ngôi trường mình định theo học, cơ hội việc làm sau khi ra trường.
Chung quan điểm này, PGS TS Hoàng Minh Sơn cho rằng, khi các trường thực hiện tự chủ ĐH, vấn đề học phí tăng cao là tất yếu. Nguồn tuyển sinh không thiếu nhưng ĐH Bách khoa Hà Nội muốn chất lượng đầu vào không giảm đi, để những em giỏi vẫn vào học chứ không phải vì học phí mà không vào được ĐH Bách khoa Hà Nội.
Nhìn nhận vấn đề này, một chuyên gia giáo dục cho rằng, khi nhiều trường đều công bố tỷ lệ sinh viên có việc làm trên 90% thì rất khó để những trường khác đưa ra con số thực tế của trường mình do sự cạnh tranh gắt gao trong mỗi mùa tuyển sinh.
Về phía Bộ GD&ĐT, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ luôn khẳng định quan điểm nhất quán là các trường phải công khai, dù đúng hay chưa đúng (vì còn phải kiểm định chất lượng mới biết). Bộ sẽ có cơ quan kiểm tra độc lập những số liệu thống kê của các trường. Trường nào không công khai đầy đủ thông tin sẽ không được thông báo tuyển sinh.
2. Thời gian qua, thông qua việc kiểm toán kết quả định giá DNNN trước khi cổ phần hóa do Kiểm toán Nhà nước (KTNN) tiến hành đã cho thấy, hàng nghìn tỷ đồng vốn Nhà nước có thể sẽ bị thất thoát bởi phương pháp xác định giá trị DN còn nhiều bất cập. Điều đó đặt ra cần phải đổi mới cơ chế, chính sách liên quan đến xác định giá trị DN để xác định đúng nguồn vốn Nhà nước tại DN, đồng thời thúc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa DNNN đang chậm trễ lâu nay. Bất cập trong định giá Doanh Nghiệp: Nguy cơ thất thoát hàng chục nghìn tỷ đồng vốn Nhà nước (Báo Hải quan 25/8).
Trong quá trình cổ phần hóa DNNN, việc xác định giá trị DN trước khi cổ phần là giai đoạn then chốt, làm tiền đề cho việc phê duyệt phương án cổ phần hóa về sau. Tuy nhiên, quá trình xác định giá trị DN cho thấy, còn có nhiều bất cập, kẽ hở dẫn tới nguồn lực Nhà nươc tại các DN này có thể sẽ bị giảm bớt nếu không có sự vào cuộc, phát hiện của cơ quan Kiểm toán.
Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, Kiểm toán trưởng KTNN Chuyên ngành 6, trong năm 2016, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, KTNN được giao nhiệm vụ kiểm toán 8 DNNN. Trước đó, 8 DN này đã được các tổ chức tư vấn định gía xác định theo phương pháp tài sản. Qua kiểm toán, KTNN đã kiến nghị điều chỉnh tăng thêm vốn Nhà nước hơn 8.454 tỷ đồng. Trong số đó, Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn là DN có số vốn Nhà nước được điều chỉnh tăng thêm lớn nhất là 4.586 tỷ đồng. Xếp thứ 2 sau Bình Sơn là Công ty mẹ Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) khi DN này bị đề nghị tăng thêm 2.029 tỷ đồng chủ yếu do định giá lại các khoản đầu tư tài chính tăng 1.331 tỷ đồng; xác định lại nợ phải thu liên quan đến tiền bán điện tăng 128 tỷ đồng và kê khai thiếu giá trị lợi thế kinh doanh là 525 tỷ đồng... Ngoài ra, Công ty mẹ - Tổng công ty Dầu Việt Nam bị chênh 512 tỷ đồng, Công ty mẹ - Tập đoàn Cao su Việt Nam chênh 440 tỷ đồng, Công ty mẹ - Tổng công ty Xuất nhập khẩu Thanh Lễ chênh 72 tỷ đồng…
Theo TS. Nguyễn Ngọc Tuấn, Chủ tịch Hội Thẩm định giá Việt Nam, hiện nay việc xác định giá trị DN ở nước ta mới chỉ hướng dẫn 2 phương pháp là phương pháp tài sản và phương pháp dòng tiền chiết khấu, trong đó, phương pháp tài sản đang được sử dụng phổ biến. Tuy có nhiều ưu điểm, nhưng phương pháp này cũng bộc lộ không ít khiếm khuyết do đánh giá DN trong “trạng thái tĩnh”, ít chú ý đến việc nó còn có thể hoàn chỉnh, phát triển trong tương lai, nên nhiều trường hợp không phản ánh sát thực tế, bỏ qua giá trị vô hình không được hạch toán trên sổ sách dẫn đến giảm giá trị tài sản được đánh giá, làm “méo mó” giá trị DN, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của Nhà nước.
Để nâng cao hiệu quả công tác cổ phần hóa DNNN, theo TS. Trần Đình Thiên, cần áp dụng đầy đủ nguyên tắc thị trường trong quá trình bán tài sản Nhà nước, trước hết là đối với tài sản đất đai. Bên cạnh đó, cần phải cố gắng tăng giá trị của DNNN trước khi cổ phần hóa bằng cách giải quyết vấn đề nợ, tái cơ cấu để tăng hiệu quả hoạt động, đồng thời tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân trong cổ phần hóa, coi đây là yêu cầu bắt buộc.
Nhiều ý kiến cũng cho rằng, sở dĩ có sự chênh lệch là do có tình trạng các công ty thẩm định giá hoặc do yếu kém về nghiệp vụ, hoặc do chạy theo lợi ích, bóp méo giá trị thẩm định. Để hạn chế tình trạng này, trong một loạt các đề xuất của mình, TS. Lưu Trường Kháng, Phó Kiểm toán trưởng, KTNN Chuyên ngành 5 đề xuất Chính phủ và các bộ, ngành liên quan ban hành tiêu chí xếp hạng các tổ chức tư vấn để các chủ sở hữu các DN cổ phần hóa có thể dễ dàng lựa chọn các tổ chức có uy tín và đảm bảo chất lượng trong việc tư vấn định giá DN, kiên quyết loại bỏ các tổ chức tư vấn yếu kém đối với loại hình định giá DN, bổ sung quy định cho phép các tổ chức tư vấn định giá nước ngoài tham gia quá trình cổ phần hóa.
 
 
MTC


Xem tin theo ngày: 
ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH